Thế sự thăng trầm quân mạc vấn (II) hay Thư gửi bạn ta

Trả lời
Hình đại diện
Bạch Vân
Bài viết: 3064
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 19:19
Gender:

Thế sự thăng trầm quân mạc vấn (II) hay Thư gửi bạn ta

Bài viết bởi Bạch Vân » Thứ năm 12/07/18 12:05

  •           




    Thế sự thăng trầm quân mạc vấn (II)
    hay
    Thư gửi bạn ta





              

              


    Bạn Kim Quý ơi,

    Ba bài viết của ông bạn nói về cái chết của Bà Ngô Đình Nhu nhũ danh Trần Lệ Xuân, cũng như của hai cô con gái là Ngô Đình Lệ Thủy và Ngô Đình Lệ Quyên đã khiến tôi vô cùng xúc động. Xúc động, không riêng vì cả hai chi em đều thiệt mạng do tai nạn xe hơi, mà cái chết bi thảm của hai người, cũng như cái chết của bà Nhu, lại đều xảy ra vào tháng Tư là tháng của lễ Pâques, làm như có sợi giây định mệnh khắc nghiệt nào đó muốn kết hợp số phận ba mẹ con với nhau.

    Bên cạnh nỗi xúc động này, phần Quý dành nói về phong cách giữ im lặng và khắc kỷ của Bà Nhu trong suốt thời gian sống lưu vong tại hải ngoại, đặc biệt tại Pháp, sau khi ông Diệm và ông Nhu bị bọn tướng lãnh phản bội sát hại. làm tôi nhớ lại và ân hận cho thái độ ngu ngốc tối dạ của mình thời xảy ra cuộc đảo chánh. Hồi đó, cũng nhu đa số người dân miền Nam lúc bấy giờ, tôi tin vào luồng dư luận của những fakenews do một số truyền thông Mỹ tung ra nhằm triệt hạ uy tín hai anh em ông Diệm và dọn đường cho cuộc đảo chánh: nào là chế độ gia đình trị, chính quyền độc tài tham nhũng, kỳ thị tôn giáo; thậm chí còn có tin đồn ông Diệm thông dâm với Bà Nhu nữa… Trước những lời đồn đại ấy, Bà Nhu đã cố lên tiếng, kể cả ra nước ngoài, gọi là để “giải độc”. Nhưng hồi đó tôi đâu có tin, và cho bà chỉ giỏi đóng kịch môm loa mép dài. Nay nhìn lại, tôi mới thấy rằng, đúng như Quý nhận định, tất cả đều là những nguồn tin ngụy tạo được Mỹ tung ra nhằm chuẩn bị cho việc thay đổi chính sách tại Việt Nam của họ. Chỉ riêng một sự kiện này thôi: Sau khi đảo chánh thành công, phe tướng lãnh đã kết tội anh em ông Diệm là tham nhũng. Nhưng họ có nêu ra được bằng chứng nào về dinh thự, về tài sản, về trương mục ở trong hay ngoài nước để nói lên tài sản kếch sù của gia đình họ nhà Ngô đâu. Như Quý cho biết : Ngô Đình Lệ Thủy bi thiệt mạng trên chiếc xe Peugeot do Tổng giám mục Ngô Đình Thục vừa mua cho. Còn Ngô Đình Lệ Quyên, dù đậu bằng tiến sĩ Luật nhưng không chịu vào quốc tịch Ý nên không được làm giáo sư đành chấp nhận đi làm trên một chiếc xe gắn máy để bị xe hơi tông chết thảm. Riêng Bà Ngô Đình Nhu, tôi nghe nói thời gian sống tại Pháp trước khi qua đời, Bà sống âm thầm ẩn dật trong một appartement nhỏ ở quận 15 Paris, không thuộc quyền sở hữu của bà, mà là của một thân nhân cho ở nhờ. Chỉ một vài chi tiết cụ thể nêu trên cũng đủ cho thấy tất cả những dư luận liên quan đến gia đình ông Diệm đều là những câu chuyện dựng đứng nhằm lật đổ chính quyền do ông lãnh đạo nằm trong kế hoạch thay ngựa giữa dòng để thực hiện chiến lược mới của Mỹ trong vùng Đông Nam Á. Giờ nhớ lại, với khoảng cách tầm nhìn có được, tôi mới thấy thái độ vui mừng biểu lộ của tôi hồi đó, quả là nông nổi và xuẩn động.




    Trong niên khóa chót 1962-63 tại Văn Khoa Sài Gòn, Quý cho biết có được là bạn đồng môn với Ngô Đình Lệ Thủy. Tiếc rằng niên khóa đó tôi đã rời Văn Khoa và đang dạy học tại Gò Công nên không có cơ hội được tiếp xúc với cô Lệ Thủy. Tuy nhiên bài viết của Quý đã làm sống dậy trong tôi những kỷ niệm khi mới được làm cậu sinh viên văn khoa : Cái năm tôi theo học lớp Dự bi Pháp (Propédeutiques françaises) và cũng là năm Văn Khoa Sài Gòn bắt đầu khánh thành trụ sở tại góc đường Lê Thánh Tôn – Nguyễn Trung Trực, nguyên là khám đường cũ, và sau này khi trường chuyển về đại lộ Thống Nhất thì đổi thành Thư viện Gia Long.

    Tấm băng tú tài hai còn thơm mùi giấy mực, nay lại được làm cậu sinh viên văn khoa đặt trụ sở ngay giữa trung tâm Hòn Ngọc Viễn Đông, khỏi phải nói cái mặt thằng tôi hồi dó nó câng câng như thế nào. Tuy nhiên, tôi chỉ biết vênh váo cái mặt ra điều ta đây vậy thôi. Là sinh viên ở trọ lại gốc dân thỏ đế, tôi đâu dám gạ gẫm làm quen với ai. Bởi vậy mỗi lần tan giảng đường, tôi không biết làm gì khác là tới la cà các tiệm sách Việt Bằng, Khai Trí trên đường Lê Lợi, lấy việc coi cọp ít trang của một vài tựa sách mới làm niềm vui. Hạnh phúc của tôi là những ngày chủ nhật. Buổi sáng mấy bữa đó, sau khi kiểm điểm số tiền ky cóp trong tuần thấy đủ, tôi mới thắng bộ đồ vía dành cho những dịp lễ lớn, lọc cọc đạp xe tới gửi trạm coi xe kế cận trường Văn Khoa. Tiếp đến, mò tới tiệm Phở Minh bên hông rạp hát bóng Casino trên góc đường Pasteur-Lê Lợi kêu một tô phở đặc biệt với đủ bộ tứ trụ tái, sách, gầu, vè không quên đòi phải có thêm hành trần nước béo. No nê rồi, tôi mới băng qua đường ghé lại quán Mai Hương đối diện kêu một ly cà phê sữa đá để giải khát. Ít khi tôi ngồi một mình, thường kiếm một khuôn mặt quen nào đó tới ngồi chung bàn, nhưng thanh toán sòng phẳng theo kiểu à l’américaine, nghĩa là tiền nước ai người nấy trả. Vừa nhâm nhi cà phê và tán gẫu, tôi vừa đưa mắt theo dõi mấy cô nữ sinh Gia Long, Trưng Vương thướt tha trong chiếc áo dài trắng, lí lắc trò truyện với nhau. Đôi khi gặp được một em dân Ma Ri Cút (nữ sinh Marie Curie) mặc váy chẽn (jupe serrée) để lộ hai bắp chân trắng nõn, còn cặp mông tròn lẳn dưới làn vải bó sát lại nhún nhảy đong đưa như hai quả lắc trên tay anh chàng đứng đánh nhịp cho vũ điệu mambo – cha cha cha, là tôi mỉm cười khoái trá. Anh bạn ngồi chung bàn thấy tôi mặt mày hớn hở như thằng ở nhăn nhở cười với chủ mấy ngày cuối năm, bèn phán một câu xanh rờn để chọc quê :
    • “ Đã biết mình nghèo mà lại còn ham”.
    Biết anh bạn muốn đá giò lái, tôi đâu có vừa bèn phản pháo bằng một câu rờn xanh không kém :
    • “Bởi em phận nghèo nên mới còn đường để mà ham”.




    Lúc đó, tôi tưởng trả lời theo kiểu tắc cô tắc (du tac au tac) như vậy là chỉ để đáp lễ anh bạn cho đúng luật ân oán giang hồ có ăn có trả. Ai ngờ sau qua nhiều trải nghiệm trong cuộc sống, giờ ngẫm lại, tôi mới thấy chữ ham dùng trong câu trả lời lúc đó ý nghĩa làm sao. Chẳng khác chi chữ fête trong cuốn sách mang tựa « Paris est une fête » (1) của Hemingway cả. Bởi vì chữ ham trong câu trả lời của tôi không chỉ có nghĩa thèm thuồng, ấm ức như anh bạn có ý gán cho tôi. Trái lại, chữ ham của tôi lúc đó lại bộc lộ niềm tin phấn khởi vào một tương lai tốt đẹp sẽ tới. Đó cũng là cái tâm trạng của hầu hết người dân miên nam Việt Nam thời bấy giờ :
    • Thời kỳ một đất nước người dân sống an lạc hài hòa, như Lam Phương ca ngợi trong bản « Nắng đẹp miền Nam ».
    • Thời kỳ một đất nước lai láng « Tình quê hương » như tựa bài hát mang lời thơ Phan Lạc Tuyên được Đan Thọ phổ nhạc:
      • Anh về qua xóm nhỏ
        Em chờ dưới bóng dừa
        Nắng chiều lên mái tóc
        Tình quê hương đơn sơ…

    Nhưng tiêu biểu cho cái tinh thần lạc quan và chan chứa tình người ấy, chắc phải kể bản « Xóm đêm » của Phạm Đình Chương qua lời ca ghi lại dưới đây, mà tôi mong là đúng với nguyên bản :

    • Đường về canh thâu
      Đêm khuya ngõ sâu như không màu
      Qua phên vênh có bao mái đầu
      Hắt hiu vàng ánh điện câu.

      Đường dài không bóng
      Xa nghe tiếng ai ru mơ màng
      Mưa rơi rơi xóa lối đi mòn
      Có đôi lòng vững chờ mong.

      Ai chia tay ai đầu xóm vắng im lìm
      Ai rung lên tia mắt ngàn câu êm đềm
      Mong sao cho duyên nghèo mai nắng gieo thềm
      Đẹp kiếp sống thêm.

      Màn đêm tịch liêu
      Nghe ai thoáng ru câu mến trìu
      Nghe không gian tiếng yêu thương nhiều
      Hứa cho đời thôi đìu hiu.

      Đêm tha hương ai vọng trông
      Đêm cô liêu chinh phụ mong
      Đêm bao canh mưa âm thầm
      Theo gió về khua cơn mộng
      Hẹn mai ánh xuân nồng.

      Cho nên đêm còn dậy hương
      Để dìu bước chân ai trên đường
      Để nhìn xóm khuya không buồn
      Vì người biết mang tình thương.

    Hãy khoan bàn về thể điệu tác giả chọn để diễn tả ý nhạc vội. Chỉ cần nhìn hình thức lời ca được phân đoạn như trên, ta đã có thể coi Xóm đêm là một bài thơ. Mà quả đúng là một bài thơ, theo tôi. Không chỉ do nhịp điệu và vần điệu của mỗi khổ, mà mỗi từ Phạm Đình Chương sử dụng đều được chọn lọc cân nhắc để chuyển tải một ý nghĩa đặc biệt, khiến ta có thể sánh toàn bộ ca từ của ông với một bài thơ biểu tượng hàm súc, gợi cảm gợi ý.

    Hai chữ canh thâu ngay trong câu mở đầu Đường về canh thâu, đã gợi trong ta, qua thành ngữ « thức suốt canh thâu », ý nghĩ khu xóm đó chắc phải xa xôi lắm. Thực tế, sự cách xa đó chưa hẳn do khoảng cách, mà do sự khác biệt lớn lao giữa hai thế giới, giữa hai cảnh sống : một bên là chốn phồn hoa ánh đèn rực rỡ, một bên là xóm nghèo với những con hẻm tối tăm (ngõ sâu như không màu), nơi sống âm thầm những con người thuộc thành phần vô tên tuổi (bao mái đầu) trong những mái tranh xiêu vẹo (phên vênh). Cũng trong câu hai này, ta cần để ý là Phạm Đình chương đã không viết ngõ tối hay ngõ vắng là những từ rõ nghĩa khiến trí tưởng tượng của ta ít còn đường dụng võ. Từ sâu, trái lại, không chỉ bao hàm ý vắng và tối, mà còn gây cho ta cảm giác một cái gì đó bí ẩn, đe dọa (hang sâu, vực thẳm), khiến người lạ đi ngang vội chùn bước, không muốn dấn thân vào một chốn được coi hiểm nghèo. Phạm Đình Chương, trái lại. Qua màu vàng hiu hắt của ánh điện câu, ông không chỉ tìm thấy nơi đây những con người, mà còn là những tấm lòng.

    Thế nhưng, dường như đó lại không phải là cảm nhận của giới tự cho nghe nhạc sành điệu ngày nay, đặc biệt thành phần con cháu mấy ông bà tân đại gia hay viên chức của quyền.
    • Chả thế mà trong một youtube được phổ biến trên mạng, có lần tôi được nghe một bà MC, để giới thiệu bản Xóm đêm, đã bày tỏ lòng trắc ẩn trước cảnh một cụ già tối tối ngồi co ro trong manh chiếu rách trong một khu xóm nghèo và kêu gọi mọi người đi ngang hãy nhủ lòng thương tới bố thí cho ông già.
    • Điệu nghệ hơn, trong một youtube khác, là cảnh một ông ca sĩ ăn vận như ông hoàng trổ tài diễn tả bản Xóm đêm bên chiếc xe kéo nạm bạc đặt giữa tòa lâu đài hoành tránh như trong một câu chuyện huyễn hoặc Ngàn lẻ một đêm.
    Diễn tả bản nhạc theo các phong cách ấy, chắc chỉ dành cho những thành phần có thói quen vừa nghe nhạc vừa liếc mắt đọc mục nhắn tin trên smartphone loại xịn, và cho rằng chỉ cần lắc lư cái đầu theo nhịp gõ tắc sình tắc sình của giai điệu rumba quyến rũ là đủ chứng tỏ ta đây dân sành điệu. Họ đâu thắc mắc về hai chữ «điện câu » trong lời ca hắt hiu vàng ánh điện câu ý nói gì. Giả thử có thắc mắc, họ rồi cũng sẽ nhún vai nghĩ rằng điện câu hay điện soi, cũng thế thôi. Chẳng qua là do ca sĩ hát sai lời, hoặc do sơ ý của người viết nhạc mà ra. Tôi cho rằng một thái độ nghe nhạc hời hợt như vậy chẳng khác chi muốn biến bản nhạc mang giai điệu rumba của Phạm Đình Chương thành một thứ nhạc sến, bắt nhạc sĩ tài hoa của chúng ta phải đội mồ sống dạy để phân bua rằng ông không hề nuôi ý đồ sáng tác bản nhạc trong tinh thần đó. Thực ra, cái đem lại cơm cháo cho bản Xóm đêm, cái khiến bản nhạc có đáng đồng tiền bát gạo để người yêu nhạc lắng nghe như là một tác phẩm có giá trị văn hóa nghệ thuật hay không là nằm trong ba chữ ánh điện câu, chứ không phải bằng biểu lộ thái độ trắc ẩn kênh kiệu ấy. Tại sao vậy ?

    Học giả Pháp Ernest Renan trong L’Avenir de la science (1848) có viết một câu vẫn thường được dùng làm đề luận văn cho ban tú tài Pháp :
    • « La vraie admiration est historique »
      (Sự tán thưởng đích thực có nội dung lịch sử).
    Với tôi, có lẽ chưa bao giờ câu nói để đời này lại thích hợp với trường hợp bản Xóm đêm cho bằng. Bởi vì có đặt bản nhạc trong bối cảnh lịch sử nó được sáng tác, ta mới thấy mấy chữ vàng ánh điện câu Phạm Đình Chương sử dụng là có chủ đích. Và có nắm được dụng ý này, ta mới thưởng thức hết được cái tinh hoa nghệ thuật trong ý nhạc lời thơ của bản Xóm đêm.

    Xóm đêm, nếu tôi nhớ không lầm, được ra đời khoảng 1956 hay 1957 gì đó, nghĩa là chỉ vài ba năm sau Hiệp Định Genève, hiệp định biến cố dẫn đến hơn một triệu người dân rời miền Bắc đến sinh sống tại miền Nam. Do dân số gia tăng đột ngột, nhất là các khu ngoại ô quanh Sài Gòn, nhu cầu về điện cũng gia tăng theo. Hồi đó Đập Đa Nhim nhằm cung cấp năng lượng cho một công trình biến điện mới còn đang giai đoạn xây cất, Nhà máy điện Sài Gòn cũ không đủ khả năng cung cấp điện cho mọi người. Tại các khu xóm lao động ngoại ô, chỉ những người dân cư ngụ lâu đời mới có công tơ điện mà thôi. Những người mới đến lập nghiệp hầu như phải sống ngập chìm trong bóng đêm. Trước cảnh ngộ đó, chủ nhân các công tơ điện, để tỏ tình tương thân tương trợ, đã đồng tình cho các gia đình mới đến được dùng giây điện móc vào công tơ của mình để có ánh sáng, cho dù ánh đèn của họ có bị yếu ớt vàng vọt theo. Đó chính là ý nghĩa của câu « Hắt hiu vàng ánh điện câu », và Phạm Đình Chương đã sử dụng hai chữ « điện câu » với chủ đích rõ rệt.

    Giả dụ có ai thay thế chữ « câu » bằng chữ « soi » để biến câu nhạc của Phạm Đình Chương thành « hắt hiu vàng ánh điện soi ». Câu nhạc được sửa đổi này, ta nghe thấy thích hợp hơn vì được làm sáng nghĩa hơn. Nhưng với từ « soi » được dùng để thay thế này, thì hình tượng« hắt hiu vàng » ở đây lại được hiểu theo nghĩa một ánh sáng èo uột, le lói nói lên sự nghèo hèn thấp kén. Và hình ảnh gợi lên do sự sửa đổi này sẽ đem lại cho người nghe cảm giác bản nhạc của Phạm Đình Chương chỉ để mô tả cảnh sống cơ cực lầm than của một khu xóm nghèo hèn tăm tối. Cảm giác này đã hoàn toàn phản lại tinh thần và quan niệm sáng tác của tác giả. Cảm xúc của ta, do đó, sẽ bị hướng theo một ngả khác.

    Thọat nghe, bốn câu mở đầu của bản Xóm đêm cho ta cảm giác đứng trước một khu xóm tồi tàn với những mái tranh xiêu vẹo (phên vênh), trong đó sống lầm lũi những thân phận nghèo hèn không ai cần biết tới (có bao mái đầu). Nhưng với Phạm Đình Chương lại khác. Bằng cảm nhận tinh tế của một nghệ sĩ tài hoa,
    • ông không chỉ thấy cái nghèo hèn của ánh vàng hiu hắt,
    • mà qua ánh điện èo uột le lói đó
      ông lại nhìn ra ánh hào quang nhân bản của một thế giới chan chứa tình người.
    Cái hào quang nhân bản ấy được tỏa ra từ âm vang của những lời ru trìu mến, khiến Phạm Đình Chương cảm thấy bị cuốn hút vào cái ngõ sâu như không màu ấy.

    Và càng đi vào sâu, ông càng thấy đời sống ở đây không chỉ có là một bãi sình lầy hôi hám khiến kẻ phàm tục đã vội tìm đường lảng tránh. Trái lại, ông tìm thấy nơi đây một đầm sen quí với những bông sen tinh khiết đang tỏa ngát hương thơm.
    • Con người nơi đây sống thầm lặng, nhưng tình cảm nồng nàn đằm thắm
      (Ai rung lên tia mắt ngàn câu êm đềm).
    • Và chung thủy : Cảnh vật có thay đổi (Mưa rơi rơi xóa lối đi mòn),
      nhưng lòng người không có đổi thay (Có đôi lòng vững chờ mong).
    Một vài ca sĩ khi hát, không biết do vô tình hay hữu ý, đã đổi chữ « vững » ra thành « vẫn ». Tôi cho đây là một sửa đổi đáng tiếc. Bởi vì « vững » và « vẫn » không đồng nghĩa trong bản nhạc này.
    • « Vẫn » nói lên sự chờ mong mòn mỏi như một nỗ lực để làm tròn nghĩa vụ ;
      còn « vững », trái lại bày tỏ một sự trung kiên, một tấm lòng son sắt.
    Nếu chịu khó lắng nghe và tìm hiểu lời ca của Xóm đêm, ta sẽ thấy mỗi từ ngữ Phạm Đình Chương sử dụng đều được chọn lọc với dụng ý chuyển tải một nội dung thông điệp ý nghĩa. Và bản nhạc của ông, do đó,
    • có thể coi thuộc loại tình ca
      để ca ngợi cái đẹp của một khung cảnh nghèo nàn,
      với những con người sống lam lũ nhưng lương thiện,
      ăn ở có tình có nghĩa với nhau.
    Thế nhưng Phạm Đình Chương lại không soạn theo điệu Slow hay valse lente là những giai điệu dành cho nhạc tình ca; trái lại, ông cố ý chọn thể điệu Rumba với những nốt nhạc nhịp nhàng quyến rũ như muốn
    • dìu bước chân ta đi sâu vào cái Xóm đêm ấy,
      để được nghe trong không gian có tiếng yêu thương nhiều,
      để được thấy nơi đó có những con người biết mang tình thương.





    Trên đây là cảm nhận của riêng tôi về bản Xóm đêm. Cảm nhận có thể chủ quan, nhưng bởi nó gắn liền với một kỷ niệm tôi vẫn muốn nhớ mãi. Kỷ niệm về cái thời tôi mới đặt chân tới miền Nam sau khi Hiệp Định Genève được ký kết.

    • Hồi ấy, gia đình tôi phải tới tá túc nhà một ông cậu xa tại Xóm Chiếu thuộc khu Khánh Hội bên kia sông Sài Gòn. Tuy không xa thủ đô là bao, chỉ cách một cây cầu ngắn, nhưng Xóm Chiếu thời đó là một xóm lao động nghèo với nhiều mái nhà tranh lụp xụp và một góc chợ lèo tèo dăm ba quán tranh xiêu vẹo mang tên Chợ Xóm Chiếu.

      Lúc đó, tôi còn là một thiếu niên đang lo chuẩn bị thi bằng Trung học đệ nhất cấp Pháp (BEPC). Một bữa, trên đường đi học về ngang qua chợ, chợt gặp một chị bán trái cây chừng ba chục tuổi bày bán một thúng chất đầy măng cụt, bên trên có trưng một trái được bổ ngang phô bày những múi dày dặn trắng nõn nổi bật trên màu vỏ nâu thẫm. Măng cụt là thứ trái cây tôi vốn ưa thích, lại thấy chị đang trò chuyện với khách, tôi tò mò đứng ngó. Chờ khách đi rồi, tôi mới rụt rè lại hỏi giá và xin mua một chục. Chị vui vẻ chọn một hơi mười sáu trái to nhất, đẹp nhất, gói lại trao cho tôi. Tôi vội đẩy ra và nói :
      • « Tôi chỉ mua một chục thôi, đâu có nhiều thế này. »
      Chị nhoẻn miệng cười, hiền hậu nhìn tôi rồi nhỏ nhẹ đáp bằng một giọng ngọt ngào ấm áp, cái giọng nói tôi vẫn muốn coi là thứ quà đặc sản của người dân miệt vườn vùng đồng bằng sông Cửu Long :
      • « Em ở ngoải mới dzô, nên chưa biết đó. Trong Nam một chục không chỉ có mười như ngoài Bắc đâu. Gọi một chục nhưng thường là mười hai, mười ba, mười lăm, có khi còn nhiều hơn nữa. Chị bán một chục mười bốn, nhưng biết em thích thứ trái cây này nên chị thêm hai trái làm quà cho em đó. »
      Tôi lẽn bẽn cầm gói trái cây chị trao, chỉ biết lí nhí hai tiếng cám ơn rồi vội quay đi.


    Chưa bao giờ tôi lại cảm thấy yêu đời và phấn khởi bằng lúc đó. Không, tôi không đang phải sống tha phương cầu thực. Tôi vẫn ở trên quê hương tôi đấy chứ. Tôi chỉ đặt chân tới một vùng đất mới, với những con người chưa quen biết, nhưng không hề xa lạ. Những con người trung hậu, niềm nở tiếp nhận tôi trong tình thương ruột thịt, nghĩa đồng bào. Đôi tay nặng chĩu, một bên cặp sách, một bên túi trái cây, tôi hân hoan bước đi bằng những bước chân sáo tung tăng của cậu bé trong buổi khai trường. Một khung trời rạng rỡ, một tương lai hứa hẹn đang vẫy chào tôi.




    • Ôi ! Việt Nam, quê hương tôi !
      Ôi ! Việt Nam, con người, đất nước tôi là thế đó.
      Đã lâu lắm rồi tôi không trở về thăm Việt Nam. Tính từ lần chót vào năm 2008 đến nay là vừa đúng mười năm.
      Mười năm nước chảy qua cầu…
      Mười năm để mưa rơi rơi xóa biết bao lối đi mòn.
      Mười năm để mưa rơi rơi, nhưng liệu vẫn còn những đôi lòng vững chờ mong ?
    Tuy đã mười năm không về thăm Việt Nam, nhưng qua lời của những người quen thuật lại, và qua hình ảnh trên các đài truyền hình, đặc biệt là trên hai kênh VTV4 và NetVieT, tôi được biết Việt Nam nay đã thay đổi nhiều, đặc biệt là về mặt phát triển và hiện đại hóa. Mức sống người dân trong nước, nói chung đã được nâng cao và cải thiện nhiều.

    Những khu xóm tồi tàn ngoại biên các đô thị lớn, như khu Xóm Chiếu trước đây, đang lần lượt biến mất. Thay vào đó là những khu biệt thư xa hoa hoành tráng như Phú Mỹ Hưng (Quận 4 SG) hoặc những tòa cao ốc, như Vinahomes Central Park mới đây, đua nhau mọc lên như nấm. Đây là nơi tọa lạc dành riêng cho một giai tầng xã hội có tiền của, có thế lực như muốn sống tách rời với thế giới chung quanh. Không biết có phải vì lý do an ninh, hay vì muốn bắt chước lối sống của mấy tay đại tư bản hoặc mấy siêu sao màn bạc Hollywood, họ cũng biến mấy nơi cư ngụ xa hoa này thành những vùng cấm địa an toàn, ra vào có nhân viên bảo vệ kiểm soát và canh gác.

    Không chỉ sống tách rời quần chúng bằng hàng rào an ninh, họ còn muốn nói lên sự khác biệt của mình bằng những trò chơi ngông y chang kiểu Mỹ. Tôi nghe nói một vài nhân vật bỗng dưng gây được một vài tài sản kếch xù (không biết bằng cách nào, do mánh mung hay móc ngoặc), để chứng tỏ sự thành công, ắt là phải thành nhân của mình (theo tam đoạn luận), họ cho trưng bày trong phòng khách, trong phòng ngủ bộ sa lông hay cái giường ngủ được giáp vàng lấp lánh sáng chói, khiến thiên hạ nhìn vào, ai cũng phải lắc đầu lè lưỡi. Trớ trêu thay, và cũng báo hại thay, cái trò thích chơi ngông này, nghe đâu lại do một số ông bà Việt Kiều đầu têu, đặc biệt là Việt Kiều tại Mỹ. Sau cái ngày được đặt chân tới bển, một số người bỗng dưng mắc chứng ưa nổ, mỗi lần về thăm bà con lại đem cái tước vị, không biết hư hay thiệt, và cái vỏ giàu sang của mình ra khoe để làm le với bà con lối xóm. Và do thói quen thường xuyên đi về, dần dà họ đem đổ bệnh cho một số bà con trong nước. Bởi vậy hiện tượng những khu biệt thự xa hoa lộng lẫy, những tòa cao tầng ngày một mọc lên như nấm, cũng như hiện tượng các tước vị tiến sĩ, phó tiến sĩ ngày càng trở thành phổ biến trong nước, chẳng khác gì loại rau muống xanh thẫm ngày càng thấy lan tràn trên những vũng lầy ô nhiễm do chất thải kỹ nghệ. Dẫu sao cũng phải nhìn nhận Việt Nam ngày nay đã có những bước tiến đáng kể về mặt cải thiện đời sống vật chất, chứ không như ở cái thời còn « phải vác dép râu đi vào vũ trụ » nữa.

    Tiếc thay những thực hiện đáng kể về mặt công trình xây cất ấy chỉ nói lên được sự bắt kịp đà tiến hóa về mặt văn minh kỹ thuật, nhưng dường như không đóng góp được gì cho việc cải thiện đời sống tâm linh đem lại cho xã hội một khuôn mặt nhân bản thực sự tiến bộ. Bên cạnh những công trình kiến trúc cầu cống vĩ đại, những khu biệt thự xa hoa hoành tráng, những tòa nhà chọc trời ngạo nghễ, vẫn còn dấu vết của đời sống nhược tiểu với những khu phố nghèo nàn chật chội, những con hẻm tăm tối, người dân sống chen chúc trong những khu nhà ổ chuột như bất cứ thành phố nhược tiểu nào trên thế giới.

    Nhưng không chỉ có biểu hiện nhược tiểu về điều kiện sinh sống, mà đặc biệt còn cả về mặt tinh thần nữa. Của cải càng đổ vào nhiều, càng khiến người ta mỗi lúc một thêm đánh mất lời khuyên « Đói cho sạch, rách cho thơm» hay « Giấy rách phải giữ lấy lề » vốn là những lời khuyên đạo đức truyền thống của ông bà ta.
    Thay vào đó, câu « Phú quý vi tiên » đã được chọn làm phương châm sống để người ta đua nhau lấy việc phô trương của cải hay quyền thế như là thước đo giá trị con người. Bởi vậy không chỉ hiện tượng du khách lên tiếng than phiền bị chặt chém hay mua phải hàng đểu, đồ đểu mỗi lúc một nhiều ; đôi khi còn xảy ra trường hợp bị ngộ độc dẫn đến tử vong do ăn phải đồ hư thối, nhưng người bán hàng đã dùng hóa chất tẩy rửa biến thành đồ ngon lành để đánh lừa thực khách.

    Biểu hiện cho sự xuống cấp của đời sống tinh thần này là sự xuống cấp trong sinh hoạt văn hóa, mà tiêu biểu là ngôn ngữ sử dụng trong cuộc sống hàng ngày. Có thể nói có lẽ chưa bao giờ tiếng Việt lại được sử dụng kỳ quặc, dị hợm tràn lan nhiều như ở Việt Nam hiện nay. Kỳ quặc, dị hợm không phải do bản thân các từ ngữ đó, mà do cách thức người ta sử dụng chúng. Như tôi đã có dịp trình bày trong một bài viết trước đây (2), tiếng Việt thuộc loại ngôn ngữ đơn âm nhưng lại gồm các từ được kết hợp bởi nhiều âm khác nhau đem lại cho nó một khả năng diễn tả phong phú, đa dạng với nhiều âm hưởng, màu sắc khác nhau. Thay vi suy nghĩ tìm hiểu, chọn từ cho đúng để diễn tả cho cụ thể, chính xác, người ta lại bắt chước nhau đua đòi khoe chữ để che đậy sự lười biếng hay dốt nát của mình. Thấy chữ nào có vẻ hay, mới lạ hoặc uyên bác là nhắm mắt sử dụng một cách bừa bãi khiến chúng trở nên dị hợm hay kì quặc. Giả dụ để mô tả một thiếu nữ có thân hình đẹp, tùy theo vóc dáng cô ta, ta có nhiều hình thức diễn tả để gợi lên trong tâm trí người đọc, người nghe hình ảnh cô gái đó :

    • « Cô ta có thân hình mỏng manh sương khói »,
      nếu là một cô gái tấm thân ẻo lả, yêu đuối.

      « Cô ta thân hình mềm mại như cành tơ liễu rủ »,
      nếu là cô gái có vóc dáng nhẹ nhàng thanh tú.

      «Cô ta có một thân hình cân đối quyến rũ »
      để chi một thiếu nữ có những đường nét phát triển hài hòa.

      « Cô ta có một thân hình nảy nở khêu gợi »,
      để chỉ một cô gái có đường vòng số hai, số ba rất ư là bắt mắt…

    Một vài thí dụ nêu trên đủ cho thấy tiếng Việt phong phú chừng nào để mô tả hay diễn đạt. Nhưng thay vì chịu khó quan sát và tìm từ để diễn tả cho chính xác giúp cho người đọc, người nghe hình dung được các nét đặc sắc của người đẹp, người phát biểu lại phang một câu búa tạ thuộc loại sau như để khoe với thiên hạ sư hiểu biết uyên bác của mình, hoặc ra điều ta đây con nhà có ăn học đàng hoàng tử tế:
    • « Cô ta sở hữu một ngoại hình hoành tráng thuộc loại siêu khủng ».
    Trước một câu văn đày chữ nghĩa đao to búa lớn hoành tráng (?) như vậy, ông nội tôi có sống lại, sau khi rít xong trọn một bao thuốc lào, ông cụ chắc cũng đành lắc đầu chịu thua, không biết xoay sở thế nào để giúp tôi hình dung ra được cô gái xấu đẹp, béo gầy ra sao cả. Bởi vậy tác giả các câu văn thuộc loại này, càng cho đính kèm tên mình nhiều bằng cấp hay tước vị chừng nào thì lại càng để lòi cái đuôi trình độ văn hóa vô học (chứ không phải thất học ) của họ ra chừng đó.




    Đã lâu rồi, tôi không còn là một công dân Việt Nam nữa. Trên danh nghĩa.
    Cũng đã lâu rồi tôi trở thành công dân một xứ sở văn minh tiên tiến cho phép tôi được hưởng một cuộc sống tương đối đày đủ về mặt tiện nghi vật chất, thoải mái về mặt tinh thần, đặc biệt là về quyền tự do ăn nói. Nhưng không vì thế tôi cảm thấy mình hết còn là một con người Việt Nam. Trái lại là đằng khác.

    Càng sống cách xa Việt Nam bao nhiêu, tôi càng cảm thấy luyến nhớ và gắn bó với mảnh đất mang hình chữ S nằm bên bờ Thái Bình Dương ấy, nơi tôi đã sinh ra và trưởng thành, nơi đó tôi đã trải qua không ít biến cố thăng trầm, để lại trong tôi biết bao nỗi niềm vui có, buồn có nhưng với tôi nay đều là những kỷ niệm đẹp (3). Bởi vậy tôi cảm thấy buồn, nếu không muốn nói là đau lòng mỗi khi thấy bất cứ ai lên tiếng thóa mạ đất nước Việt, lăng nhục người dân Việt.

    Lịch sử thế giới cho thấy đất nước nào, quốc gia nào cũng đều trải qua nhiều triều đại, nhiều thể chế, nhiều chính quyền khác nhau. Nhưng rồi mọi triều đại, mọi thể chế, mọi chính quyền, dù tốt đẹp hay thối nát, đều cũng qua đi. Chỉ riêng những đất nước và những con người sống bám rễ trên các mảnh đất mà họ gọi là tổ quốc ấy, là vẫn tồn tại. Bởi vậy tôi luôn luôn tin tưởng một ngày tương lai sáng lạn sẽ đến với Việt Nam. Tương lai sáng lạn, không phải chỉ bằng những công trình kiến trúc đồ sộ, những khu biệt thự lộng lẫy với đồ nội thất trưng bày xa hoa choáng ngợp, những tòa cao từng hoành tráng mọc lên như nấm. Bên trên mấy thứ đó, điều tôi mong muốn hơn hết cho Việt Nam, đó là cái ngày của « Mùa xuân đầu tiên » như tựa bản nhạc Văn Cao đã sáng tác vào đầu xuân 1956, gần hai mươi năm trước khi ông qua đời, nhưng được coi như bản nhạc chúc thư của ông. Gọi là bản nhạc chúc thư bởi vì nhạc sĩ Văn Cao đã nói lên niềm mơ ước được thấy sẽ tới cái ngày của « Mùa xuân đầu tiên » ấy , cái ngày để :
    • Từ đấy người biết quê người,
      Từ dấy người biết thương người,
      Từ đấy người biết yêu người…

    Cám ơn ông bạn Nguyễn Kim Quý, tác giả Kim Thanh đã gửi cho bài viết về cái chết của ba mẹ con bà Ngô Đình Nhu. Bài viết của ông bạn không chỉ là một bài tường thuật về trường hợp cái chết của ba nhân vật này. Nó còn là một tài liệu sưu tầm hữu ích cho những ai muốn làm công tác « trả lại cho César cái gì của César », hay đúng ra là trả lại cho lịch sử ánh sáng chân lý lịch sử.

    Riêng về phần tôi, bài viết của ông bạn còn tạo cơ hội cho tôi làm cuộc hành trình đi tìm thời gian đã mất, qua đó tôi được bồi hồi sống lại những cảm xúc đẹp của một thời huy hoàng vang bóng. Cái thời tôi còn là một học sinh niên thiếu được đến sống tại một khu xóm ngoại ô nghèo hèn với một góc chợ lèo tèo dăm ba quán tranh xiêu vẹo. Nhưng ở đó tôi đã được nghe không gian tiếng yêu thương nhiều. Nhưng ở đó tôi đã được gặp những con người biết mang tình thương.
              
    Than ôi, thời oanh liệt (ấy) nay còn đâu !
    (Lời thơ Thế Lữ)

              






    (Bắt đầu đặt bút viết một ngày vào cuối tháng Tư 2018,
    viết xong một ngày vào thượng tuần tháng Bảy 2018)

    NGUYỄN BẢO HƯNG

    ————————————————————————–

    (1)_ Mời đọc bài «Paris est une fête, hay là câu chuyện về một cuốn sách » đã được phổ biến trên một số trang mạng hay diễn đàn hải ngoại.
    (2)_ Bài « Có nên đặt vấn đề về khả năng diễn đạt của tiếng Việt ? » đã được phổ biến.
    (3)_ Bài « Dấn bước thăng trầm », cũng của người viết



    Nguồn:https://khoahocnet.com


              
Last edited by Bạch Vân on Thứ sáu 13/07/18 07:14, edited 1 time in total.

Hình đại diện
NTL
Bài viết: 772
Ngày tham gia: Chủ nhật 17/05/15 14:20

Re: Thế sự thăng trầm quân mạc vấn (II) hay Thư gửi bạn ta

Bài viết bởi NTL » Thứ sáu 13/07/18 00:09

*

Đọc bài ni y chang đi trong mê lộ. Thì đường rộng thên thang chớ sao, nhưng lần lối hổng ra bị hổng biết khúc mô là cái bùng binh đậng biết mình đang đổi hướng !
Nếu là thư viết riêng cho "bạn ta" tức người đọc quen biết tác giả do là bạn bè chơi cũng nhóm thì được, chớ viết cho người lạ thì hẳn đang làm khó họ vô cùng.

Tui có lần vô cái web nọ nhưng khổng biết do người trong nước hay ngoài nước điều hành, và khoa học ở đây có lẽ là những người cùng theo ngành khoa học, nghĩa là viết lách cốt trong vòng bè bạn cho vui.
Tui chưa đi ráo vòng thành chưa đọc thêm được bài nào ráo hết. !

Cám ơn CSRC đã khiêng về làng.
Lóng rày luời tới hổng nói năng câu nào ra hồn nữa lận !
Lại sắp ra hội đồngk kỷ luật nữa vì tội insulting đồng sự.
Trời nóng quá nên điện chạm hoài hà !
Đi làm miết cũng ớn, mà ở nhà miết cũng ớn luôn !
Chắc rồi lại chăm chỉ nói tiếp cho hạ hoả

*
Make the long story... short !

Hình đại diện
Hoàng Vân
Bài viết: 9150
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 16:11
Gender:

Re: Thế sự thăng trầm quân mạc vấn (II) hay Thư gửi bạn ta

Bài viết bởi Hoàng Vân » Thứ sáu 13/07/18 06:32

  •           



    Tôi không tính đọc (làm biếng mờ ...) nhưng nghe chị Ngô nói là "mê lộ" nên tôi vội bay vô lướt qua .. xem trận ... :giggles: ..

    Đúng là không có "bùng binh" .. :wink2: .. nhưng qua bao nhiêu phân đoạn, ý chánh của tác giả vẫn là cái thời đầu thập niên 60 là cái thời đẹp nhất của nước Việt Nam tự do, cái thời đầy hy vọng như tác giả đã ưu ái phân tích bài "Xóm đêm" của Phạm đình Chương ...

    Tác giả viết thành thật, dễ thương; lối suy nghĩ, cách viết cũng tương tợ như anh 5 Trần anh Kiệt .... :flwrhrts: ....

    Để tôi đi tìm mấy bài kia của tác giả đem về đây cho chị đọc chơi .....


    :cafe:
              

Hình đại diện
Hoàng Vân
Bài viết: 9150
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 16:11
Gender:

Re: Thế sự thăng trầm quân mạc vấn (II) hay Thư gửi bạn ta

Bài viết bởi Hoàng Vân » Thứ sáu 13/07/18 06:36

NTL đã viết:
Thứ sáu 13/07/18 00:09
*
....
Lại sắp ra hội đồngk kỷ luật nữa vì tội insulting đồng sự.
Trời nóng quá nên điện chạm hoài hà !
Đi làm miết cũng ớn, mà ở nhà miết cũng ớn luôn !
Chắc rồi lại chăm chỉ nói tiếp cho hạ hoả

*
  •           


    .... :flwrhrts: ... thôi nhịn được câu nào, lúc nào
    thì nhịn luôn cho khỏe thân mình chị ơi .... :flwrhrts: ....


              

Hình đại diện
Hoàng Vân
Bài viết: 9150
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 16:11
Gender:

Re: Thế sự thăng trầm quân mạc vấn (II) hay Thư gửi bạn ta

Bài viết bởi Hoàng Vân » Thứ sáu 13/07/18 09:15

Bạch Vân đã viết:
Thứ năm 12/07/18 12:05
  •           
    .....
    Cám ơn ông bạn Nguyễn Kim Quý, tác giả Kim Thanh đã gửi cho bài viết về cái chết của ba mẹ con bà Ngô Đình Nhu. Bài viết của ông bạn không chỉ là một bài tường thuật về trường hợp cái chết của ba nhân vật này. Nó còn là một tài liệu sưu tầm hữu ích cho những ai muốn làm công tác « trả lại cho César cái gì của César », hay đúng ra là trả lại cho lịch sử ánh sáng chân lý lịch sử.
    .....
              



  •           



              
    3 câu chuyện( Trilogy)
    về ba mẹ con bà Ngô Đình Nhu.

              

              

              





              
    I.
    NGÔ ĐÌNH LỆ THỦY,
    HỒNG NHAN MỆNH YỂU

    ___________________________________
    kim thanh




              

              
    Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương
    (Đoạn Trường Tân Thanh)

              
    1. Niên khóa 1962-63, tôi học năm cuối của chương trình Cử Nhân Giáo khoa Văn Chương Pháp tại trường Đại Học Văn Khoa Sài Gòn. Còn nhớ cùng lớp tôi lúc ấy có nhạc sĩ Hùng Lân (Hoàng Văn Hương), người hiền lành, dễ mến, như một thầy tu, thỉnh thoảng nổi hứng bất tử ngồi lén ghi nốt nhạc ngay tại chỗ, trong lúc thầy giảng bài. Có bà sơ Phạm Thị Nhâm, mà tôi thường hỏi mượn cua mỗi lần trốn học đi chơi, sau trở thành hiệu trưởng trường Nữ Thánh Tâm Nha Trang, và đã nhận ra tôi ngay khi vừa thấy tôi lò dò đến trường xin dạy. Có Đặng Tiến, da vàng xanh như người bị sốt rét kinh niên, tóc bờm xờm không chải, trước 1975 ở phòng tùy viên Tòa đại sứ VNCH tại Thụy Sĩ, đào ngũ qua Pháp sống cho đến bây giờ, chuyên viết báo nịnh hót Cộng sản và phê bình gia văn chương tầm cỡ. Có Đại úy Ngô Văn Minh, sau lên chức Đại tá Tham mưu trưỏng Quân Đoàn III, Biên Hòa. Có Wang Seng, cô bạn Tàu, Bùi Thế Cần, Lương Thị Nga, Thái Thị Nhân, Lê Thị Bích, Thái Tuyết Lê, Lê Thị Ngọc Loan, và Irène Công Huyền Tôn Nữ Phụng Tiên –đồng hương Nha Trang và đồng môn trong lớp Latin của ông Le Menn và Michel Piclin– tất cả đang ở Pháp. Có Nguyễn Nương Minh Châu, sau thành vợ Bác sĩ Đinh Hà, cả hai là cựu JECU (viết tắt của Jeunes EtudiantsCatholiques Universitaires, Thanh Sinh Công Đại Học), đang sống rất thầm lặng tại một nơi nào trên đất Mỹ. Học trên chúng tôi là Nguyễn Ngọc Diễm, Phạm Dương Hiển, Lưu Nguyên Đạt, Nghiêm Hồng (con giáo sư Nghiêm Toản), và Nghiêm Ngọc Thúy (con ông Nghiêm Xuân Thiện, sau này làm hôtessecho Air France).

    Đầu niên học, từ lầu ba, tôi và Bùi Thế Cần (học giỏi có thể nhất lớp, con của dân biểu Bùi Tuân, Huế) hay xuống lầu một, vào giảng đường Dự Bị, để tìm người quen giữa đám nai vàng ngơ ngác, hay đúng hơn tuyển mộ tân binh cho JECU. Lúc ấy, Cần là trưởng JECU Liên Trường, Nguyễn Ánh Tuyết (con trai), thư ký, còn tôi, trưởng Nhóm Văn Khoa Pháp. Một hôm, tôi thấy đứng trước cửa giảng đường một sĩ quan mang ba hoa mai bạc, đầu đội béret đỏ, tay cầm một xấp cua. Ông dáng cao gầy, vẻ tươi cười. Gặp ông, tôi khẽ gật đầu chào, và ông lịch sự chào lại. Có người cho biết, đó là Đại tá Cao Văn Viên. Mấy năm sau, ông lên tướng, trở thành xếp quá lớn của tôi, và lấy bằng Cử Nhân Pháp. Có kẻ xấu mồm nói, ông nhờ người đi học và đi thi thay cho ông. Tôi không tin. Vì ở Văn khoa Pháp, thầy cô không phát cua, phải vào lớp ghi chép hoặc mượn ai, và kỷ luật thi cử lúc bấy giờ khá gắt gao, ít sinh viên, lại phải thi oral, thầy trò biết mặt nhau hết, rất khó gian lận.

    Vào trong giảng đường, Cần và tôi ngồi lẫn lộn với đám tân sinh viên, nghe cha Pineau (thay cha Cras) giảng về Socrate và Hégel hay thầy Kiết dịch tiếng Pháp ra tiếng Việt mà phát mệt trở lại. Một hôm, chúng tôi thấy Yvonne Lan Hương, cô bạn trong JECU, học dưới một lớp, đang ngồi trò chuyện với một cô. Bèn sà đến. Yvonne giới thiệu, đây Thủy, Ngô Đình Lệ Thủy. Lần đầu gặp cô, chúng tôi không nói gì hơn ngoài vài câu xã giao thông lệ.

    Về sau, khi Lệ Thủy gia nhập JECU Văn khoa Pháp, tôi tiếp xúc với cô thường hơn, nhưng cũng chỉ để thông báo ngày giờ và chương trình họp của Hội. Cô có dáng thanh thanh, vẻ thùy mị, thông minh, ít nói, ít cười, đôi mắt linh hoạt, mặt trái soan, cằm hơi nhọn, tóc dày, cài bandeau trắng hoặc đỏ. Chúng tôi nói tiếng Pháp với nhau, cho nên bây giờ tôi không biết cô nói tiếng Việt ra sao, giọng miền nào. Đó là một điều mà sau gần nửa thế kỷ, già đi, nghĩ lại, tôi thấy “dị hợm”, mắc cỡ, mặc dù do thói quen, giống như các em Việt Nam hiện tại ở Mỹ nói chuyện bằng Anh ngữ, chứ chẳng vì “snobisme”, thời thượng, lòe thiên hạ. Lệ Thủy thường mặc váy đỏ, áo sơ mi trắng đi học, đôi khi cả đồng phục Thanh Nữ Cộng Hòa. Nói chung, cô đẹp, nhưng không lồ lộ, sexy như Irène, không tươi lộng lẫy như Lương Thị Nga. Một sắc đẹp trang nhã, đài các, kín đáo. Tôi để ý, cô ở đâu là luôn luôn có một, hai anh chàng gorilles(hộ vệ), giả dạng sinh viên, ngồi phía dưới, cách cô một dãy bàn, nhìn chòng chọc vào mọi người.

    JECU Văn Khoa Pháp lâu lâu ra một tờ Bản Tin (Bulletin), bằng tiếng Pháp, do Bùi Thế Cần, Ánh Tuyết, Minh Châu và tôi viết gần hết, vì không ai gửi bài. Trong đó, thỉnh thoảng có đăng một vài bài thơ tình lẩm cẩm của tôi, không đối tượng, chỉ là gửi gió cho mây ngàn bay, mà bây giờ tôi còn nhớ lõm bõm vài câu:
    Je veux tremper mes lèvres
    Dans l’ eau pure de ton coeur
    Et émerger frissonnant
    D’ une aube de lumière…
    (Tôi muốn nhúng đôi môi
    Vào nước tinh tuyền tim em
    Và bừng lên run rẩy
    Dưới ánh sáng bình minh…)
    hay những câu dịch thơ của John Keats, hoặc Tennyson, đại khái:
    Ce n’ est pas toi que je regrette
    C’ est le rêve par toi brisé
    (Không phải em mà tôi tiếc nuối
    Mà giấc mơ vì em vỡ tan)

    Lệ Thủy đọc xong, mày hơi nhíu, bảo tôi, nghiêm trang như một cô giáo la rầy học trò: “Je n’ savais pas que tu es si romantique. Les poèmes d’amour, ça c’est vraiment beau, mais ils désespèrent aussi” (tôi không biết anh lãng mạn dữ thế.Những bài thơ tình hay thật, nhưng cũng làm người ta tuyệt vọng). Tôi khoát tay, ấp úng chối tội như ăn vụng bị bắt quả tang: “Un peu, oui, j’ ne les ai faits que pour m’amuser. Rien de sérieux!” (Chút chút, đúng, tôi chỉ làm để chơi vui thôi mà. Không có gì quan trọng!).

    Lệ Thủy không bao giờ đến CLB Phục Hưng để họp, ngoại trừ một lần, tôi nhớ, tham dự thánh lễ đầu tháng cho toàn JECU do cha Pineau cử hành, rồi về ngay sau lễ. Chúng tôi chỉ gặp nhau tại giảng đường Propédeutique, trong giờ nghỉ giải lao, năm sáu đứa ngồi cuối phòng, có khi tại bàn của Lệ Thủy, thảo luận, hay trao đổi vài thông tin cần thiết. Hai anh chàng gorilles, chắc đã được báo trước, đứng xa xa hút thuốc, để chúng tôi yên.

    Một ngày thứ bảy, JECU Liên Hội tổ chức đi thăm trại cùi và nhà thương điên Chợ Quán, sau đợt công tác thăm viếng dân lao động nghèo tại Xóm Chùa cách đó mấy tháng. Mỗi người góp mười đồng, làm chi phí lặt vặt, và ăn trưa. Số tiền không nhỏ, hơn ba tô phở vào thời ấy, đối với ngân quỹ khiêm tốn của sinh viên còn lãnh lương cha mẹ. Lệ Thủy đưa cho tôi một trăm đồng, trước mặt Cần, nói là tiền của “maman cho Hội”, nhưng “tiếc là bận việc bên Thanh Nữ Cộng Hòa, không đi với tụi toa được.” Tôi nhận tiền, cám ơn, rồi nói nhỏ vào tai Cần: “Như thế cũng hay. Có Thủy tham gia, hai gorilles phải theo, phiền phức, mà trông ngứa mắt lắm!”

    Hôm ấy, tất cả chúng tôi, khoảng bốn chục người, chia nhau lên hai xe buýt, tuyến đường Chợ Bến Thành-Trần Hưng Đạo. Hoặc tự túc, có xe hơi riêng, như hai chị em Anh Thư và Hạp Thư, hay “đại ca” Dược sĩ Hoàng Ngọc Tuệ. Tổ y tế gồm các sinh viên Y khoa, trang bị ống nghe và túi cứu thương, do Đinh Hà hướng dẫn, làm công tác khám bệnh, phát thuốc. Tổ ăn uống do Rosa, sau thành vợ của Nguyễn Ánh Tuyết, và người chị là Rosette, điều động. Tổ văn nghệ gồm một cây guitare và một số ca sĩ mầm non, do các cô bên Dược, tôi nhớ có Yvette Trương Tấn Trung, Tôn Nữ Tâm Thường, và Nguyễn Cẩm Nhung (con của Luật sư Nguyễn Văn Huyền) phụ trách. Bùi Thế Cần làm tổng tư lệnh, Ánh Tuyết phụ tá hành quân.

    Đầu tiên chúng tôi thăm nhà thương điên. Toàn đàn ông. Vài ông, tóc dài rũ rượi, biểu diễn nhiều màn rất… điên, như xé áo xé quần, rú lên những tràng cười kinh dị, khiến các cô sợ quá, mặt mày tái mét. Nhưng đa số hiền lành đứng nhìn chúng tôi đi qua, vẻ thẫn thờ, ngây dại. Tôi cười, chào, hỏi thăm, họ vẫn vô cảm. Rồi cả toán chuyển sang thăm trại cùi. Thói quen nghề nghiệp, Đinh Hà phát sẵn mấy chai alcool, để tùy nghi. Bệnh nhân rất đông, sống theo khu, gồm cả con nít, trông rất tội nghiệp. Tôi không lạ với cảnh này, vì gần xóm tôi ở Nha Trang, khu Lạc Thiện, cũng có một trại cùi do các tu sĩ dòngFranciscains sáng lập và đảm nhiệm, nhưng lúc ấy tôi còn nhỏ, chỉ là một khán giả bàng quan, đi ngang tò mò đứng nhìn vào qua những vòng rào kẽm gai dày. Bây giờ, lần đầu tiên có dịp thấy tận mắt những thân hình gầy còm, lở lói, những bàn tay, bàn chân co quắp, hoặc mất ngón, những cặp mắt mờ đục, mù lòa. Và lòng dâng tràn một niềm cảm thương vô hạn. Tổ y tế bắt đầu khám, phát thuốc cho những bệnh nhân cùi bị cảm cúm, đau đầu, sổ mũi, do trưởng trại giới thiệu, yêu cầu. Các cô tập họp những cháu bé lại, phát kẹo, tập chúng hát theo nhịp đànguitare của Ánh Tuyết, vỗ tay, rồi cười lớn tiếng với nhau. Vài cháu chưa bị nhiễm bệnh, mặt mày trông rất sáng sủa, thông minh, phải theo sống chung với cha mẹ.

    Tháng sáu 1963, mãn trường. Bùi Thế Cần, Nguyễn Nương Minh Châu đậu Cử Nhân liền một khi. Tôi rớt oral chứng chỉ Văn chương Quốc âm –bắt buộc cho sinh viên Văn khoa Pháp, Anh– vì trong buổi thi vấn đáp với giáo sư Vương Hồng Sển tôi không nhớ Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị ông nào theo Tây, ông nào chống Tây, và đem thơ ông này cắm vào cằm ông kia. Với giáo sư Bửu Cầm, kết quả còn tệ hơn, tôi không biết chiết tự bốn câu thơ chữ Nôm của thi sĩ Tuy Lý Vương, đứng chịu chết như Từ Hải, nhìn thầy cười cầu tài. Phải thi lại hai môn vấn đáp này. Còn những nàng tiên nga “trong đám xuân xanh ấy”, mà tôi đã kể tên ở trên, chưa có ai “theo chồng bỏ cuộc chơi”, như trong thơ Hàn Mặc Tử, nhưng đã lần lượt lên đường du học Pháp một cách lặng lẽ từ năm thứ hai, thứ ba. Cần ra Huế, tôi về quê Nha Trang, dạy tại Collège français môn Việt văn, cũng nhờ cái chứng chỉ Văn chương Quốc âm khó ác ôn ấy.

    Không bao giờ tôi gặp lại Lệ Thủy, đã biến mất, từ ngày cô tặng JECU chúng tôi một trăm đồng. Tôi biết cô cũng đã đậu Propédeutique, qua bản niêm yết dán trước của trường, với tên chính thức, đầy đủ: Anne-Véronique Ngô Đình Lệ Thủy, sinh năm 1945. Chiến sự mỗi ngày leo thang. Khủng hoảng chính trị gia tăng. Sinh viên và Phật tử xuống đường hàng ngày. Cảnh sát dàn chào với dùi cui, lựu đạn cay. Những tờ báo chui chửi thậm tệ chế độ. Làm tôi rất quan tâm vì, qua Lệ Thủy, cảm tình của tôi với cụ Diệm rất sâu nặng, không như một vài bạn JECU lớn tuổi hơn, chẳng hạn Nguyễn Hữu An. Tôi lờ mờ hiểu rằng thế nào bàn tay lông lá của người Mỹ cũng đã nhúng vào nội bộ Việt Nam. Nhưng tôi tin tưởng và cầu mong cụ Diệm sẽ vượt qua hết như lần đảo chánh hụt 1960. Thời gian sau đó, nhiều biến cố xảy ra, dồn dập. Lựu đạn nổ tại đài phát thanh Huế. Thượng tọa Thích Quảng Đức tự thiêu. Nữ sinh viên Quách Thị Trang biểu tình bị cảnh sát bắn chết tại chợ Bùng Binh Sài Gòn. Rồi đảo chánh. Ngày 2/11/1963, nghe tin hai anh em cụ Diệm bị giết, ba tôi chảy nước mắt và trong giờ kinh tối ba bắt cả nhà đọc thêm kinh cầu hồn cho hai cụ. Còn tôi tự nhiên thấy buồn vô hạn, suốt mấy bữa, mặc dù chưa hề lãnh được một tí ơn mưa móc nào từ chế độ. Lúc ấy Lệ Thủy đang ở ngoại quốc với mẹ trong chuyến công du giải độc. Liền sau đảo chánh, các phản tướng chia nhau tiền thưởng của CIA, nhảy đầm thả giàn, phá bỏ các ấp chiến lược. Báo chí, sách vở (của anh chàng Hoàng Trọng Miên nào đó chẳng hạn), hùa theo các ký giả Mỹ, mở chiến dịch bôi nhọ gia đình họ Ngô, và bà Nhu, Lệ Thủy cũng bị dính miểng. Nào là bà Nhu có một chiếc ghế khích dục, trong dinh Độc lập, nhưng sự thật đó chỉ là chiếc ghế làm răng thường thấy trong phòng nha sĩ. Nào là ông Nhu bất lực. Nào là bà Nhu tư tình với cụ Diệm, với ông tướng này, ông tướng nọ. Nào là Lệ Thủy có nhiều bồ, kể cả một anh người Nhật, Lệ Thủy thất tình, học Văn Khoa, chỉ ghi danh, không đến lớp mà cũng có bằng, v.v… Tôi đọc và thấy buồn nôn. Vô lý quá, vậy mà dân chúng ít học hoặc quá khích vẫn tin, thế mới kỳ lạ. Thì cũng giống như dân quê miền Bắc mười mấy năm sau, đã ném đá vào sĩ quan cải tạo chúng tôi một cách thật tình, nguyền rủa chúng tôi là “quân mọi rợ giết người, ăn thịt con nít, hiếp dâm phụ nữ.”

    Công việc và đời quân ngũ làm tôi quên Ngô Đình Lệ Thủy. Kỷ niệm với JECU những ngày có cô cũng dần phai theo thời gian.



    2. Cho đến đầu 1967. Bốn năm sau. Tôi được tăng phái cho Tiểu đoàn 4/44 Bộ Binh trong chiến dịch Bình Định Nông Thôn tại quận Thiện Giáo (Ma Lâm cũ), nổi tiếng nguy hiểm, thuộc tỉnh Phan Thiết. Ngày đi hành quân tìm địch, qua các thôn xóm, đêm đóng quân ven rừng, mắc võng giữa hai thân cây nằm nghe tiếng đại bác ầm ì xa xa, nhìn hỏa châu từng hồi loé sáng trên ngọn Tà Dôm, mà thương cho kiếp lính tráng nay đây mai đó, trực diện cái chết cận kề. Một buổi trưa, tôi đang nói chuyện với ông Đại úy Tiểu đoàn trưởng, một viên đạn rít ngang nón sắt, cách đầu tôi một đường tơ, xuyên ngay cổ binh nhất H., mang máy truyền tin PRC 25 đứng gần đó, làm anh gục chết tại chỗ. Tên du kích bắn sẻ vụt bỏ chạy, bị lính Tiểu đoàn rượt theo và lãnh trọn một tràng carbine, phơi thây. Một người lính, bà con của H., giận dữ chửi thề và muốn xẻo tai tên này để trả thù, tôi phải khuyên ngăn mãi, mới thôi. Cảnh tượng quá thảm cho bên này, bên kia. Tôi nghĩ thêm, những người lính chiến miền Nam, hơn ai hết, là những người thực sự yêu chuộng hòa bình, và vì yêu chuộng hoà bình họ phải hy sinh mạng sống đánh đuổi giặc xâm lược từ Miền Bắc. Nếu phải chống đối chiến tranh thì họ mới là những người có quyền lên tiếng trước tiên, chứ không phải những anh làm thơ, làm nhạc ấm ớ ở hậu phương, sợ chết, trốn quân dịch, núp bóng các ông sĩ quan văn phòng cao cấp mê văn nghệ, để mà gào thét ngưng chém giết, nối vòng tay lớn, tay nhỏ. Rồi tại sao lại phản chiến một chiều? Tại sao không ra Bắc kêu gọi Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp ngưng gây hấn và tấn công miền Nam? Tại sao chỉ to mồm lên án miền Nam là nơi đã cho họ cơm ăn, áo mặc, tự do sáng tác, tự do phản bội? Bao nhiêu câu hỏi cứ lẫn quẫn trong tôi, cho mãi đến hôm nay, khi những dòng nhạc dòng thơ góp phần làm mất nước ấy vẫn còn được yêu chuộng, mê man, và các tác giả được thổi bằng ống đu đủ lên tận mây xanh.

    Nói tiếp về Ngô Đình Lệ Thủy. Một ngày cuối tuần và cuối tháng 4, 1967, tôi cùng với vài sĩ quan bạn được phép lên Phan Thiết, cách Thiện Giáo khoảng mười lăm cây số, để nghỉ xả hơi qua đêm, và nhậu bia với gà luộc. Tại quán bánh căng “còn ướt sền sệt”, chúng tôi gọi mỗi người hai tô, mỗi tô hai mươi lăm cái, đổ đầy nước mắm, ăn cho bõ những bữa cơm sấy, đồ hộp ngán đến tận óc. Tôi mua một tờ nhật báo, và giật mình đọc tin Lệ Thủy đã chết trong một tai nạn xe hơi tại Pháp, chính xác tại Longjumeau, vùng Essonne, ngoại ô Paris. Chết tại chỗ. Lúc ấy cô vừa hai mươi hai tuổi. Bài báo kể, ban đêm, cô lái xe nhỏ và bị một camion ngược chiều húc thẳng, đầu xe của cô nát bấy. Sau này, đọc trên tờ Time, số Friday April 21, 1967, thấy cũng đăng đúng tin ấy.

    Mặc dầu tình cảm của tôi đối với cô, và ngược lại, chưa bao giờ thắm thiết, gắn bó, đong đầy, đủ để những giọt lệ trào dâng chan chứa, như trong mắt nàng kỹ nữ Tầm Dương làm đẫm vạt áo xanh của người Giang Châu Tư Mã thuở trước, tôi vẫn thấy bàng hoàng, xao xuyến. Tôi bỏ dở bữa nhậu đã từ lâu chờ đợi, ngồi thừ người, nghĩ đến những kỷ niệm thời sinh viên, JECU, những buổi họp, những bài thơ tình lẩm cẩm và lời phê bình nặng ký của cô, một trăm đồng “maman cho”. Đêm về, qua cửa sổ khách sạn, tôi nhìn trời xanh thẳm không gợn mây và nửa mảnh trăng mới mọc vàng úa trên núi Tà Dôm mà nhớ câu thơ của Mạc Đĩnh Chi khóc nàng công chúa Tàu:
    Y! Vân tán, tuyết tiêu
    Hoa tàn, nguyệt khuyết
    (Ôi! Mây tản, tuyết tan
    Hoa tàn, trăng khuyết).



    3. Hai tháng sau, tôi được lệnh thuyên chuyển đi Qui Nhơn. Tôi đáp chuyến bay Air VN đến Sài Gòn trước, dự trù ở chơi vài hôm, rồi về Nha Trang nghỉ phép một tuần, trước khi ra Qui Nhơn đáo nhậm đơn vị mới. Hành trang là túi ba lô và câycarbine đeo vai, cây Colt bên hông, và bộ quân phục mặc trên người. Trong chuyến bay có một số sĩ quan trẻ từ các đơn vị tác chiến về, cũng trang bị tận răng như tôi, báo hại các cô tiếp viên phải gom hết súng lại, đem cất đi một nơi phía sau phi cơ. Tại phi trường Tân Sơn Nhất, đang đứng chờ taxi, tôi bất ngờ thấy Thái Tuyết Lê cũng từ chuyến Air France xuống. Tôi hỏi dồn:
    – Tuyết Lê phải không? Toa về từ Pháp? Không ai đón sao?
    – Không, moa không báo trước ngày giờ, muốn dành ngạc nhiên cho gia đình.

    Tuyết Lê, người Huế, cựu JECU mặc dầu ngoài Công giáo, là em bà chủ tiệm kem Phi Điệp, chợ Bến Thành-Trần Hưng Đạo, du học Pháp từ năm thứ ba Văn Khoa. Tay bắt mặt mừng, tôi mời Tuyết Lê đi chung chuyến taxi vào thành phố. Trong xe, Tuyết Lê nhìn tôi đăm đăm, tấm tắc khen, “toa trông đen, nhưng có vẻ nam nhi, hùng dũng, khác với hồi còn là thư sinh.” “Dĩ nhiên, tôi vênh mặt đáp, bắt chước nghệ sĩ Hùng Cường, lính mà em!” một cách vô duyên. Cả hai cùng cười vui.

    Câu chuyện xoay quanh bạn cũ bên đó, bên này, và tôi được biết Irène Phụng Tiên học ở Grenoble, quê hương của Stendhal, tác giả mà tôi yêu mến từ thời còn học tại Jean-Jacques Rousseau. Rồi cái chết của Ngô Đình Lệ Thủy. Đổi sang tiếng Pháp, để tài xế taxi không nghe hiểu, Tuyết Lê kể:
    – Tại Paris, tụi moa có đi viếng xác Lệ Thủy và dự lễ cầu hồn và đưa nó ra nghĩa trang. Đầu Lệ Thủy bị kính trước cắt gần lìa cổ. Khi liệm, được khâu lại và quàng bằng chiếc khăn lụa màu thiên thanh, trông mặt nó đẹp quá, thanh thản như một thiên thần. Bà Nhu từ Rome bay sang, ôm xác con mà khóc ngất, khiến tụi moa cũng khóc theo. Chiếc xe bị nạn là chiếc Peugeot còn mới do Tổng giám mục Ngô Đình Thục mua cho Lệ Thủy. Tài xế xe camion không việc gì cả, bị thẩm vấn qua loa, rồi cho về.
    Tôi hỏi:
    – Lệ Thủy học trường nào ở Paris?
    – Trường Luật.
    – Tụi toa có gặp Thủy lần nào trước đó?
    – Thỉnh thoảng. Thủy vẫn gentille (dễ thương) như trước kia.
    Tôi bỗng thở dài:
    – Tội nghiệp nó quá! Đúng là hồng nhan bạc phận!

    Xe ngừng trước tiệm kem Phi Điệp. Tuyết Lê giành trả tiền, mời tôi vào chơi, ăn kem. Nhưng tôi thoái thác, “thôi, toa mới về, cần gặp gia đình, để dịp khác”, rồi vác túi ba lô và cây súng lững thững bước đi, gọi xích lô chở về nhà ông bác họ ở đường Nguyễn Trãi.



    4. Nếu còn sống, năm nay Lệ Thủy cũng đã 66 tuổi. Quá khứ xa rồi, nhưng khi ngồi viết bài này, tôi vẫn thấy lòng bồi hồi, bởi kỷ niệm. Tôi vẫn nhớ lời cô “la rầy” tôi một lần về những bài thơ tình làm tuyệt vọng. Và hôm nay tôi sửa lại câu thơ ngày đó:
    C’est bien toi que je regrette
    Ce n’est pas le rêve par toi brisé
    (Chính em mà tôi tiếc nuối
    Không phải giấc mơ vì em vỡ tan)
    Nhưng trong một nghĩa nào, vì mang bệnh kinh niên lãng mạn, tôi nghĩ rằng mỹ nhân Ngô Đình Lệ Thủy mất sớm như vậy cũng hay. Để không bao giờ cho thế gian thấy tóc mình bạc màu.



    Portland, 1/11/2011







    II.
    BÀ NGÔ ĐÌNH NHU,
    NĂM MƯƠI NĂM CÔ ĐƠN

    _______________________________
    kim thanh



              

              

    Tin từ Ngô Đình Trác báo cho ông bạn tôi, Luật sư Trương Phú Thứ, hay rằng Bà quả phụ Ngô Đình Nhu, nhũ danh Maria Trần Lệ Xuân, đã về Nước Chúa lúc 2 giờ sáng ngày lễ Phục Sinh, 24/4/2011, hưởng thọ 87 tuổi.

    Tôi viết bài này gửi các thân hữu, bạn bè, và những người mà tôi biết chắc vẫn còn ái mộ, quý mến –hoặc ít ra không thù ghét– Bà Ngô Đình Nhu, chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam, và Tổng thống Ngô Đình Diệm. Không như những phản tướng 1963, tôi chưa hề gặp mặt Bà Nhu, chưa hề nhận ân sủng nào của Bà hay của chế độ, ngoài một trăm đồng Bà gửi tặng Hội JECU (Thanh Sinh Công Đại Học) năm xưa, được Ngô Đình Lệ Thủy trao cho tôi (xin đọc bài “Ngô Đình Lệ Thủy, hồng nhan mệnh yểu”).

    Bà Ngô Đình Nhu là người nổi tiếng thuộc dòng họ Ngô Đình và người liên hệ trực tiếp với chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa duy nhất còn sống sót vừa ra đi. Dù thương hay ghét Bà, ai cũng phải công nhận Bà là một nữ lưu thông minh, có tài có sắc, một cộng sự viên đắc lực, quả cảm của chồng và anh chồng. Qua hai nền Cộng Hòa, chưa có một phụ nữ tầm cỡ public figure (người của quần chúng) Việt Nam nào làm tôi thấy cảm phục và hãnh diện như Bà Ngô Đình Nhu. Cho dù, dĩ nhiên, Bà chưa hoàn hảo, cũng như bất cứ ai trên đời. Trước và sau vụ đảo chánh 1963, Bà là mục tiêu tấn công của những nhà báo và chính khách Việt Nam và ngoại quốc, nhất là Mỹ, chưa nói Cộng sản đội lốt tôn giáo, đối lập, “cách mạng”, đã không ngần ngại vu khống, xuyên tạc, đổ lỗi, thêu dệt đủ điều, kể cả về đời tư của Bà. Đọc tất cả những tài liệu đã được giải mật, và những sách báo cũ, và những sách báo mới trên các Diễn Đàn Hải Ngoại –những diễn đàn của Đui Chột, của Thù Hận, của Ác Độc– tôi thấy bất nhẫn và buồn nôn trước sự hèn hạ, nhỏ nhen của con người, vì dù sao Bà cũng chỉ là một phụ nữ và không giữ một chức vụ chính thức nào trong chính quyền. Bọn họ, kể cả Mỹ và Tây Phương, không mã thượng, anh hùng đủ, than ôi, để đánh Bà bằng một cành hoa hồng, nhưng đã dùng mọi thứ dao búa. Họ dã man, trên phương diện tinh thần, không khác chi một Gia Long đã hành hình, về thể xác, nữ tướng Bùi Thị Xuân và con gái 16 tuổi bằng cách cho voi dày.

    Bà là hiện thân và nạn nhân của Bất Hạnh như một trong những nữ nhân vật chính tuyệt đẹp của những vở bi kịch Hy Lạp. Nhưng khác với họ luôn vùng lên, phản kháng, chất vấn Thượng Đế, Bà đã im lặng, chấp nhận mệnh số nghiệt ngã, và âm thầm chịu đựng tất cả những sầu khổ, oan khiên, bất công, suốt một nửa thế kỷ.

    Một điểm nữa, sáng ngời, về con người của Bà, mà tôi tin rằng đến cả kẻ thù cũng không thể phủ nhận. Khi chồng bị thảm sát, Bà còn trẻ đẹp lắm –điều mà báo chí Mỹ thiên vị và ác độc cũng phải ca ngợi. Nhưng Bà ở vậy, thờ chồng, nuôi đàn con còn vị thành niên, không có của chìm của nổi, không lầu son gác tía, nhờ tham nhũng hoặc ăn cắp của công. Nếu có bằng chứng Bà phạm vào hai điều cấm kỵ này, chắc chắn báo chí và công luận Mỹ và Việt Nam, vốn thù nghịch, đã không bao giờ để Bà yên. Bà sống khép kín như một nữ tu tại gia. Không xuất hiện trước đám đông. Không cho nhân gian thấy tóc đổi màu, những dấu chân chim in trên đuôi mắt và những tàn phai bởi thời gian, theo gương những mỹ nhân tự thuở xưa. Không tuyên bố này nọ. “Thời của tôi qua rồi”, bà thường nói với những người quen biết, như một lời giã biệt thế gian. Không mang tiếng, không bồ bịch, không bước thêm bước nữa. Không vì tiền bán thân cho tỷ phú. Nếu sống vào thời quân chủ, Bà xứng đáng nhận lãnh bằng khen “Tiết Hạnh Khả Phong”.

    Bấy nhiêu thôi cũng đủ làm tôi yêu mến Bà như một người mẹ (bà kém mẹ tôi một tuồi). Ca ngợi Bà như một nữ chính khách một thời sáng giá, đảm lược, dám nói dám làm, như chồng Bà, trước vòng vây khốn của thù trong giặc ngoài. Kính trọng Bà như một thần tượng. Làm sao tôi không xúc động khi nghe tin Bà đã bước vào một cuộc hành trình cuối cùng, ngày Chúa chết trên cây thập giá và sống lại, để từ nay vĩnh viễn thuộc về của Tuổi, nói theo Edwin Stanton, belongs to the Ages.

    Nhà danh họa thuộc phái ấn tượng Auguste Renoir của những tuyệt phẩm chan hòa ánh sáng và màu sắc, những năm cuối đời, bị bệnh thấp khớp hành hạ, không đứng được nữa, phải ngồi vẽ tranh một cách đau đớn với bàn tay co quắp, nhức buốt. Người học trò của ông, danh họa Matisse, thấy vậy, thương ông, đã hỏi: “Tại sao Thầy phải tiếp tục ngồi vẽ một cách khổ sở như thế?” Renoir ngước nhìn khung vẽ, trả lời: “Đau đớn sẽ qua đi. Cái đẹp sẽ còn lại.”

    Tôi muốn nhắc lời của Renoir, để nói về Bà, trong một nghĩa nào. Đau đớn tinh thần của Bà Ngô Đình Nhu sẽ qua đi. Cũng như đau đớn thân xác của nữ tướng Bùi Thị Xuân. Nhưng vẻ đẹp của Bà sẽ tồn tại. Vĩnh viễn.

    Tôi biết những kẻ chống và ghét Bà sẽ khó chịu vì bài viết của tôi. Không sao. Đời mà. Tuy nhiên, xin những kẻ ấy xử sự cao thượng một chút, như một con người. Hãy để Bà yên nghỉ, ít nhất trong thời gian này. Chờ sau ba tháng, một năm, mười năm nữa, rồi hãy chìa ra nanh vuốt, cũng chưa muộn.

    Tôi muốn báo tin cho các thân hữu của tôi và xin họ đọc một kinh, cầu nguyện cho linh hồn Bà mau về Cõi Vĩnh Hằng, và tìm được Bình An đích thực. Sau năm mươi năm cô đơn.




    Kim Thanh
    Ngày Chúa sống lại 8/4/2012







    III.
    BẢN SONATE CHO MỘT NGƯỜI TỬ TẾ,
    LUCIA NGÔ ĐÌNH LỆ QUYÊN

    ______________________________
    kim thanh





              

              

    Tin dữ được chuyển đến tôi sáng nay từ một anh bạn phương xa làm tôi rụng rời, như mới đây một người quen, không thân lắm, đột ngột ra đi, dù tuổi lớn và bệnh hoạn. Huống chi Ngô Đình Lệ Quyên rời bỏ dương trần lúc 53 tuổi –còn quá trẻ đối với tôi. Trong một phút giây, tôi mong đó không phải là sự thật. Biết đâu ai đó đã đùa dai tung trễ lên mạng ảo một poisson d’Avril, dù tháng tư sắp hết. Đến khi Luật sư Trương Phú Thứ gọi điện thoại kiểm chứng với Ngô Đình Quỳnh và sau đó tôi lên web thế giới và có trong tay bài báo bằng tiếng Ý và một đoạn băng video, thì chút hy vọng mỏng manh thật sự tan vỡ và nỗi đau buồn trong tôi lên tới tột độ.

    Bàng hoàng như mất một người thân thuộc. O mon Dieu, mais pourquoi, pourquoi, pourquoi? Tôi thầm hỏi Thượng Đế và cho riêng tôi như một lời thở than, đột nhiên –như năm xưa khi đọc tin chị cô, Lệ Thủy, người bạn trẻ thuộc Nhóm Thanh Sinh Công, đã chết trong một tai nạn xe hơi cũng thảm khốc, cũng bất ngờ không kém– vẳng lên từ đáy tiềm thức trước nỗi tuyệt vọng khôn cùng. Mặc dù tôi chưa hề một lần gặp gỡ Lệ Quyên, chưa hề thấy một bức hình nào của cô trước kia, chưa hề một lần nghe nhắc đến tên cô, ngoại trừ trong bản thảo hồi ký của mẹ cô, bà quả phụ Ngô Đình Nhu. Cô rời Việt Nam năm 1963, lúc mới bốn tuổi, một tháng sau khi cha và bác bị thảm sát bởi những bàn tay tanh tưởi mùi máu và mùi đô la, nên những người thuộc thế hệ già chúng tôi không để ý lắm. Chỉ hai hôm nay thôi, tôi mới được biết Lệ Quyên đã nhiều năm đặc trách giúp đỡ những người di dân khắp thế giới trong cơ quan Caritas của thành phố Roma, nơi cô đã sống gần nửa thế kỷ thầm lặng dấn thân. Và đã chết trong một khoảnh khắc kinh hoàng. Nằm chết cô đơn giữa dòng xe xuôi ngược, giữa dòng đời như thản nhiên đến vô tình. Chết một cách bi thảm, tức tưởi, trong vô vàn thương tiếc muộn màng của biết bao người không có mặt sáng ấy trên đường Pontina, Roma.

    Khi sao phong gấm rủ là
    Giờ sao tan tác như hoa giữa đường
    Chúa ơi, tại sao, tại sao, tại sao? Tôi tự hỏi. Có lời giải đáp nào cho sự bí ẩn siêu hình phi lý này không? Nếu người bị nạn không phải là con ông bà Ngô Đình Nhu, em của Ngô Đình Lệ Thủy, cháu của một tổng thống và một tổng giám mục, em họ của một hồng y, nếu cô không thuộc dòng tộc quyền quý, cao sang, nổi tiếng vào bậc nhất của lịch sử Việt Nam cận đại, thì câu hỏi này đâu cần thiết nữa. Có người trả lời, bằng cách so sánh dòng họ Ngô Đình với dòng họ Kennedy –cũng chịu nhiều oan trái tương tự. Phần tôi không nghĩ như thế. John F. Kennedy, những đồng lõa Mỹ và tay sai Việt Nam, năm 1963, rõ ràng là thủ phạm trực tiếp hay gián tiếp giết chết ba anh em nhà Ngô, để sau đó ào ạt đổ quân vào Việt Nam, gây ra những xáo trộn, khủng hoảng chính trị, quân sự, và cuối cùng dẫn đến sự sụp đổ của cả Miền Nam, mười hai năm sau. Thủ phạm làm sao có thể đồng hóa với nạn nhân? Rồi nữa, làm sao so sánh ba anh em nhà Kennedy với ba anh em họ Ngô Đình về tư cách và đạo đức cá nhân?

    Những kẻ căm ghét chế độ Ngô Đình Diệm, trái lại, ưa trích câu “ác giả ác báo” để giải thích tai nạn xảy ra theo quan niệm tôn giáo và bài học luân lý sơ đẳng, đúng hơn theo thuyếtkarma (nhân quả) quen thuộc. Tôi cũng không nghĩ như thế. Lệ Thủy, Lệ Quyên, hoặc xa hơn John Kennedy Jr., đã làm gì nên tội, mà bị Trời “phạt” về những lỗi của người lớn, nếu có? Nếu thuyết nhân quả đúng, tại sao Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, hay Staline, Mao Trạch Đông, Pol Pot v.v…, những tên đại gian, đại ác nổi tiếng, đã sát hại biết bao sinh linh lại được chết già an lành, trong khi hàng triệu nạn nhân hiền lành, vô tội bị giết oan, chết thảm? Ông trời quả có mắt thật không? Gần nhất, những tên Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân v.v… tay đã nhúng máu của hàng ngàn đồng bào ở Huế dịp Tết Mậu Thân mà vẫn còn sống nhơn nhơn. Tại sao?
    Mới đây, lần đầu được thấy những bức ảnh của Lệ Quyên, với đôi mắt sâu đen thăm thẳm, nét mặt cương nghị, phảng phất một nỗi buồn xa vắng, tôi chợt nhớ đến dáng vẻ kiêu hãnh và sắc đẹp bi thảm (tragique) tương tự của một nữ tài tử Hy Lạp đóng vai nhân vật Antigone trong cuốn phim cùng tên. Antigone(442BC), vở bi kịch bất hủ của nhà soạn kịch Hy Lạp lừng danh, Sophocle, kể những thảm họa phủ xuống Oedipe và gia đình bởi mệnh số khắc nghiệt và độc đoán. Nhân vật Antigone, cũng như Electre, Phèdre của kịch tác gia Euripide, và Hermione, Oreste, Pyrrhus… trong các vở bi kịch khác nữa mà Racine, thế kỷ XVII văn học Pháp, đã mô phỏng, đều là những nạn nhân của định mệnh nghiệt ngã dành cho con người vốn yếu đuối, bất lực trước thần linh, những thế lực siêu hình, hoặc đam mê tàn bạo. Chỉ có cái chết mới hóa giải mọi oan nghiệt.“Evil strikes at it down the generations wave after wave, like seas that batter a headland…” (Bất hạnh dập xuống qua các thế hệ theo từng đợt sóng tiếp nối, như biển vỗ vào bờ đất cao…” (Sophocle, Antigone). Trong một bối cảnh khác, thi hào Nguyễn Du há đã chẳng viết cho những hồng nhan bạc phận: “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” hoặc “Tài tình chi lắm cho trời đất ghen”, và về uy quyền tối thượng của Trời, thế lực trên cao:
    Ngẫm hay muôn sự tại trời,
    Trời kia đã bắt làm người có thân.
    Bắt phong trần phải phong trần,
    Cho thanh cao mới được phần thanh cao.

    Người Công giáo xem những bất hạnh trên đời là do sự Quan Phòng (Providence) của Thiên Chúa toàn năng, là thử thách dành cho những người công chính, như ông Job trong Kinh Thánh đã phải chịu trăm bề đớn đau, khổ nhục.

    Dù được cắt nghĩa thế nào, cái chết đột ngột của Lệ Quyên làm tôi vừa cảm thương vừa kính phục vừa thấy hãnh diện về cô. Cảm thương, như Thúy Kiều ngày nào bên mộ Đạm Tiên không quen, khéo dư nước mắt khóc người đời xưa. Hãnh diện, vì cô được báo chí ngoại quốc nhắc đến trong tư cách người Việt Nam đến Ý tỵ nạn chính trị từ bé, sau đó giữ chức vụ quan trọng trong Hội Caritas Roma, đã yêu thương, giúp đỡ tha nhân và những người cùng khổ, và hết lòng thờ phượng Chúa. Kính phục, vì dù có bằng tiến sĩ Luật, mà bởi nhất quyết không chịu vào quốc tịch Ý, cô không được đi dạy đại học, và cô cũng chẳng cần. Kính phục, vì tuy lấy chồng người Ý cô vẫn đặt tên con là Ngô Đình Sơn. Một phụ nữ Việt Nam muốn mãi mãi giữ căn cước và bản chất Việt Nam –xin hiểu VNCH. Còn gì cao đẹp hơn? Cũng như mẹ và hai anh, cô chưa một lần trở về thăm cố hương –bây giờ đang nằm trong nanh vuốt của Hận Thù, của Dối Trá, của Bất Công, của Tàn Bạo. Và cũng như mẹ cô, chưa một lần nói một lời, viết một câu hằn học kết án cá nhân những kẻ đã sát hại cha, bác, chú của mình. Cô đã quên và tha thứ tất cả.

    Và như thế, tôi nghĩ rằng, trong bao năm sống kín đáo, khiêm nhường, làm việc, lặng lẽ như một bóng mờ –không còn ai nhắc đến– giữa chốn bụi hồng lao xao, biết đâu cô muốn chống lại, hoặc ít ra xoay đổi, định mệnh khắc nghiệt đè nặng lên gia đình, dòng họ, theo cách riêng của cô. Cũng như Antigone, theo cách riêng của nàng, khi đúng trước vua Créon, cãi lại lệnh cấm không được ai chôn xác người anh nổi loạn, Polynice, và qua đó, thách đố mệnh trời cứ đeo đẳng trừng phạt gia đình Oedipe, cha nàng. Bị kết án tử hình, nàng ngẩng cao đầu và kiêu hãnh“xem cái chết như một điều tốt khi con người sống giữa bao nhiêu điều bất hạnh, khổ đau…” Những tưởng Ngô Đình Lệ Quyên từ nay sẽ được giải thoát khỏi lời nguyền của định mệnh.

    Ngờ đâu, định mệnh không buông tha. Và một sáng, cô đã gục ngã. Đầu hàng, bất lực. Như một nữ nhân vật đích thực trong những vở bi kịch của một Hy Lạp huyễn mơ mà tôi đọc say mê từ ngày còn đi học…

    Tôi ca tụng và tiếc thương cô biết mấy cho vừa. Thôi, cô hãy ngủ giấc bình an ngàn năm, tự do từ đây, hỡi Lệ Quyên, Antigone của lòng tôi.



    Portland, 17/4/2012
    Kim Thanh




    nguồn: ttngbt.wordpress.com
              

Trả lời

Quay về “Thời luận - Xã luận - Phiếm luận - Tạp ghi”