Sài Gòn Cô Nương

Hình đại diện
Bạch Vân
Bài viết: 3413
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 19:19
Giới tính:

Re: Sài Gòn Cô Nương

Bài viết bởi Bạch Vân » Thứ năm 09/05/19 11:50

  •           

    Biên Chế






    Biên chế là một chỗ làm việc chính thức trong cơ quan, xí nghiệp theo quy định của nhà nước.

    Tư chức thường cho là bị bóc lột sức lao động, lương dù có thể hơn nhưng được cho không xứng đáng với sức lực vắt ra đến kiệt quệ. Làm cho tư nhân cũng không ổn định khi có thể bị cho nghỉ việc bất cứ lúc nào. Thất nghiệp là một tình trạng đáng sợ và chẳng ai muốn đối mặt vói nó.

    Vì thế rất nhiều người muốn vào làm việc cho nhà nước với biên chế hẳn hoiF. Dẫu có phần nhàm chán với tình cảnh đều đặn sáng vác ô đi tối vác ô về ngày nào cũng y như ngày nấy tới suốt đời, nhưng bù lại là sự chắc chân. Không bao giờ thấp thỏm sợ đuổi việc. Sống yên ổn an nhàn cho dù với số lương èo uột khó theo kịp mức sống lạm phát.

    Tuy nhiên không phải cứ ai thích đều được nhận vào biên chế hết mà số biên chế được đưa xuống từng nơi có giới hạn. Sở này có bảy chục biên chế, phòng kia có năm thôi…

    Có bao nhiêu biên chế tức chỉ bấy nhiêu lương rót xuống. Nếu thêm người, nơi đó phải có quỹ riêng để trả lương. Ví dụ ở những trường học có bán trú, học sinh ở lại trường ăn và ngủ trưa đến chiều mới về. Người nấu ăn và dọn dẹp không có biên chế tức không nhận lương từ quỹ lương của nhà nước mà do phụ huynh chi trả hoặc từ quỹ trường có từ tiền cho thuê mặt bằng làm trung tâm dạy thêm, bãi giữ xe… chẳng hạn.

    Quy định về biên chế lắm khi không sát sao với tình hình thực tế. Nghĩa là công việc cần phải có mười người làm nhưng biên chế chỉ cho bảy thôi hoặc ngược lại, công việc chủ cần ba người là đủ nhưng biên chế rót cho mười người.

    Những nơi không có quỹ nhưng công việc nhiều làm không xuể, cơ sở phải xin thêm người tức xin thêm biên chế để có tiền trả lương. Cấp trên đồng ý với đề nghị đó để đưa thêm mấy suất lương xuống. Thường khi thì cũng có mối quen biết nhau. Người này người kia muốn đưa người quen người nhà vào biên chế. Vì thế thỏa thuận nhau cơ sở ở dưới đưa yêu cầu lên và cấp trên duyệt xét để đưa người quen vào.

    Tiền lương trả cho công chức lấy từ ngân sách nhà nước mà được ví như bầu sữa không cạn!Bình quân cứ chín người dân Việt phải nuôi một người làm việc hưởng lương hoặc phụ cấp từ ngân sách nhà nước. Giảm nơi này, phình ra nơi khác. Tăng lương, tăng chức lẫn nhau.

    Mặc dù biết là cồng kềnh và tốn quỹ nhà nước nhưng giảm thì khó khăn tới mức không thể giảm được như ở đài truyền hình Hà Nội nơi mà 40% nhân sự lèng èng là con ông, cháu bà! Vả chăng không bắt bẻ được gì vì họ chỉ lượn ra lượn vào, không vi phạm kỷ luật, không cãi giả sếp, không gây xích mích với đồng nghiệp… Nói chung là không… làm gì cả! Đó là không kể, trong 500 biên chế của tổng số 700 người lao động của đài, có tới gần 140 người là “cán bộ chủ chốt”, đến mức “chưa có cơ quan truyền thông nào cán bộ chủ chốt nhiều như thế”.

    Bởi vì ngoài tiền lương chính thức, còn rất nhiều phụ cấp chung quanh. Ai cũng làm sếp để nhận thêm phụ cấp trách nhiệm, bổng lộc nữa. Thế nên lắm chỗ số lượng lãnh đạo còn nhiều hơn nhân viên thừa hành. Ba, bốn ông sếp, bà sếp chỉ huy một tên nhân viên quèn. Sở Lao động, Thương binh & Xã hội tỉnh Hải Dương có bốn mươi bốn trưởng, phó phòng điều khiển hai nhân viên. Nghe mà “ớn lạnh”.

    Do duyệt biên chế một cách dễ dãi như thế đưa đến kết quả là chẳng bao lâu số lượng biên chế tăng cao. Điều đó có nghĩa bộ máy hành chánh nhà nước nhanh chóng nở phình ra. Số lượng vụ, cục và tổng cục tăng đều đều đáng kể, trở nên cồng kềnh, hao tốn ngân sách mà thực tế vẫn không chạy việc chút nào do chồng chéo, nặng nề ngang dọc đè lên nhau.

    Hầu hết công chức đều kêu ca đồng lương không đủ sống và vẫn lắm kẻ ao ước xin được vào chân biên chế nhà nước và tìm đủ mọi cách chạy chọt để đạt mục đích

    Hàng trăm sinh viên, thậm chí rất nhiều thạc sĩ sư phạm ở Thanh Hóa phải xin vào các nhà máy làm công nhân.

    Chạy tiền để xin việc là chuyện thường xảy ra. Thế nên mới có chuyện một ông nông dân mắc nợ đầm đìa dám tự xưng là cháu của chủ tịch huyện kiêm trưởng phòng kinh tế huyện, nhận hơn nửa tỷ đồng của năm người để chạy vào làm nhân viên thuế, giáo viên mầm non…

    Một thiếu phụ ở Hà Nội tự xưng là cán bộ giáo dục lừa 167 người trên cả nước để chạy trường, chạy việc với số tiền gần ba chục tỷ đồng. Một trưởng công an xã nhận 300 triệu để chạy lừa cho một cô gái vào ngành công an. Hiệu trưởng trường cấp 2 ở Daklak nhận 210 triệu hứa lèo tuyển một giáo viên vào diện hợp đồng rồi sẽ đưa vào biên chế chính thức để cuối cùng “xôi hỏng bỏng không”. Cũng ở Daklak, một hiệu trưởng trường cấp 2 nhận gần 1,2 tỷ đồng để chạy việc cho mười hai người, trong đó có một người nộp ba trăm triệu để chạy vào làm ở trường cao đẳng sư phạm. Trường hợp đau lòng khác không có tiền chạy vào biên chế đành đánh đổi bằng tình. Một cô giáo đồng ý vào nhà nghỉ với hiệu phó lời hứa hẹn vào biên chế rồi bị hiệu phó dùng clip nóng khống chế đưa đến hậu quả danh dự bị chà đạp, người mất việc, kẻ mất chức, hai gia đình tan vỡ.

    Kết quả của việc chạy chọt là Daklak dư ra tới năm trăm giáo viên. Một giáo viên Mỹ thuật đã phải chạy tiền để xin một chân đứng lớp ở trường tiểu học. Nhưng không phải chỉ thế là chắc chân rồi mà còn phải tiếp tục chạy hiệu trưởng để được ký hợp đồng từng năm. Tính ra tốn hàng trăm triệu mà vẫn chờ đợi mỏi mòn hàng chục năm hy vọng tới ngày được xét duyệt vào một chỗ biên chế trống. May mắn được lãnh chút đồng lương nhỏ nhoi hay dạy không lương. Cơ may ấy hoặc chẳng bao giờ tới hoặc tới nhỏ giọt với ai đâu. Trong lúc đó, giáo viên vẫn cứ ùn ùn nhận thêm vào dẫn tới việc dư thừa, không có đủ lớp để dạy. Không kể hiệu trưởng còn bớt xén tiền lương giáo viên. Một giáo viên Toán trường Ngô Mây lãnh lương khoảng hai triệu nhưng bất ngờ phát giác kho bạc đã trả gần mười triệu đồng.

    Vô số trường hợp chạy vào biên chế. Chạy nhiều hay ít tiền, việc vừa ý hay không, chạy thành công hay bị lừa gạt… là những câu chuyện khác nhau kể hoài không cạn.

    Một số công việc cũng kiếm khá lắm chứ chẳng chơi. Như làm giáo viên có thể mở lớp dạy thêm; bác sĩ, y tá làm ở phòng mạch tư; nhân viên thuế, địa chính, hải quan… có thể nhận “bồi dưỡng”, những nơi thường nhận dự án, công trường…

    Ngoài ra những ngành nắm quyền sinh sát lợi tức rất cao. Một doanh nghiệp mới thành lập, khi nộp báo cáo điều tra, ông chủ lẹ tay nhét một phong bì vào hộc bàn của cán bộ. Khi được hỏi Làm gì kỳ vậy, chúng tôi chỉ nhận báo cáo chứ không nhận tiền. Ông chủ ngập ngừng gãi đầu vì quen làm việc với bên thuế là vậy đó.

    Ở tỉnh lẻ, miền núi xa xôi… làm gì có nhiều công ty, xí nghiệp tư nhân. Vì thế người ta cố gắng mọi giá chen chân vào nhà nước. Mà phải chạy chân biên chế chắc chắn chứ không phải ký một bản “hợp đồng” bấp bênh đâu. Bởi hợp đồng chỉ có giới hạn thời gian. Hết thời hạn chẳng biết có được tiếp tục ký không nên lúc nào cũng sống trong nơm nớp lo âu bị sa thải lúc nào.

    Hai năm gần đây, do tình trạng dôi dư giáo viên, các huyện Vĩnh Lộc, Yên Định, Thạch Thành, Cẩm Thủy… cắt giảm biên chế, chấm dứt hợp đồng đứng lớp khiến nhiều thầy cô rơi vào cảnh thất nghiệp.

    Để thắt chặt tình trạng hỗn loạn kể trên thì bây giờ muốn vào biên chế, giáo viên lâu năm cũng phải thi tuyển như giáo sinh mới ra trường rồi bổ sung thêm bằng Anh văn, vi tính… Các ông già bà già mới nghe đã thấy ngao ngán. Ngày xưa đâu có mấy món hóc búa này. Bây giờ tóc hoa râm, trí não chậm chạp, chưa thi đã thấy muốn rớt rồi!

    Giỏi hiển nhiên như gần ba trăm cô giáo ở huyện Sóc Sơn (Hà Nội) là chuyện lạ. Nào đạt giáo viên dạy giỏi, nào bằng cấp đầy mình, thành tích xuất sắc… thế nhưng khi thi viên chức để vào chính ngạch, họ vẫn trượt mà không hiểu tại sao. Có gì mà không hiểu, chẳng qua những chỗ ấy dành cho quen biết và tiền bạc chứ không phải cho người giỏi. Thành thử những người lão làng trong nghề không ngại tham dự các cuộc thi tuyển vì năng lực kém mà chỉ sợ cuộc thi không bảo đảm tính công bằng, minh bạch.

    Vào được biên chế rồi thì coi như cứ tà tà an hưởng tới lúc về hưu. Dù là người chây lười, người lạc hậu, người bê bối… vẫn bình chân như vại. Không ai cách nào bẩy đi cho được.

    Biên chế giữ chặt không buông nên không thể thay thế người dở. Người giỏi chờ hoài không tới phiên mình đâm ra chán nản. Chắc phải đợi người về hưu hoặc bệnh tật nặng gì đó thì mới dư một suất biên chế cho người mới. Nhưng vé đó cũng chẳng dành cho người giỏi vì còn xếp hàng rất xa sau lưng đám quen biết con ông cháu cha.

    Ông giáo già đứng lớp lâu năm nhưng vẫn dạy rất kém, phát âm “lúng búng ngậm hột thị”, nói năng lắp bắp không rõ chữ… nhưng do đã vào biên chế chính thức nên không thể buộc ông thôi việc. Hiệu trưởng đành kiên nhẫn đợi ông tới ngày về hưu. Phụ huynh thở dài con họ lọt vào lớp của ông coi như “rồi đời”, phải cho học thêm không thì chẳng hiểu bài.

    Ông khác có bằng kỹ thuật cơ khí và làm giám đốc một công ty máy tính. Công ty bị sáp nhập, ông được chuyển về một đơn vị nghiên cứu kinh tế, vẫn giữ nguyên chức vụ giám đốc. Đâu có biết gì vì trái ngành nghề, ông chỉ huy lơ ngơ, nhân viên dưới quyền che miệng cười thầm. Thôi kệ, chuyên môn đã có mấy ông phó lo, còn ông đã vào biên chế giám đốc thì mãi mãi ngồi ghế giám đốc, hơn nữa lại là giòng dõi cách mạng.

    Nhằm tinh giản biên chế nên nhà nước “khoán quỹ lương” tức là đưa xuống cơ sở một số tiền lương nhất định. Liệu cơm gắp mắm, ít người thì chia nhau nhiều, nhiều người chia nhau ít. Ai cũng muốn tăng thu nhập nhờ khoán quỹ lương nên không muốn thêm người.

    Điều này được coi là có kết quả tốt cho việc tinh giản biên chế là vấn đề khiến cho nhà nước nhức đầu bấy lâu vì theo số liệu năm 2017, có trên 2,7 triệu công viên chức (tăng 100%) trong khi dân số chỉ tăng 20% (khoảng 92 triệu người). Lại có nhiều kiểu tinh giản như ở Saigon trợ cấp cho người nghỉ hưu trước tuổi. Hà Nội khuyến khích cán bộ tự giác làm đơn xin nghỉ.

    Nhiều cách, nhiều kiểu nhưng biện chế vẫn là vấn đề nhức đầu khó giải quyết.


    Sài Gòn Cô Nương


    Nguồn:http://vietluan.com.au



              

Hình đại diện
Bạch Vân
Bài viết: 3413
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 19:19
Giới tính:

Re: Sài Gòn Cô Nương

Bài viết bởi Bạch Vân » Thứ sáu 17/05/19 08:39

  •           


    Tiền trao cháo múc





    Buôn bán chính ngạch là chính thức đưa hàng xuất cảng qua hàng rào quan thuế,

    Tiểu ngạch là mua bán thẳng với nhau qua các cửa khẩu biên giới tiền trao cháo múc mà không cần tới một ràng buộc giấy tờ nào. Chỉ cần tờ khai, phí qua biên giới là xong.

    Buôn bán tiểu ngạch giúp công ty trong nước bán được hàng hóa một cách nhanh chóng, thuận tiện, giảm chi phí, tiện thanh toán và dễ trốn thuế. Hàng hóa, ví dụ như nông sản, thu hoạch ngoài ruộng rẫy xong, cứ thế chất lên xe chạy thẳng một mạch tới biên giới. Khỏi như chính ngạch cần hóa đơn, chứng từ thanh toán, hợp đồng ngoại thương… vô cùng rắc rối vì qua bao nhiêu ải để có những thứ giấy tờ ấy.

    Loại buôn bán này quá sức đơn giản, xem chừng hạp với nhiều VN mặc dù chất chứa nhiều rủi ro trong đó. Khi xảy ra tranh chấp thường chịu thua thiệt vì chẳng có giấy tờ hợp lệ nào đưa ra chứng minh để cãi cọ.

    Không có hợp đồng để buộc phải trả tiền khi nhận hàng tức là chẳng biết tương lai mịt mùng ra sao. Khách đặt hàng, thường là đặt miệng, rồi không nhận hàng hoặc nhận hàng không trả tiền ngay. Trả nhiều lần, trả một phần hoặc cuối cùng biến mất. Cháo múc đi rồi mà chẳng thấy tiền đâu.

    Ngoài thị trường trong nước thì hàng hóa VN phải trông cậy vào việc xuất khẩu ra ngoại quốc. Thị trường Âu Mỹ, mặc dù rất chuộng nông sản vùng nhiệt đới nhưng VN khó mà đáp ứng nổi các tiêu chuẩn khắt khe về vệ sinh an toàn thực phẩm. Dính chút xíu thuốc trừ sâu, vỏ bị dập, thâm đen… hàng hóa đều bị trả về toàn bộ. Một doanh nghiệp bị lỗi con sâu làm rầu nồi canh, các doanh nghiệp khác chịu tiếng xấu lây. Việc xuất khẩu chính ngạch vì thế càng khó khăn.

    VN có xuất nhập khẩu tiểu ngạch với ba nước láng giềng là Lào, Campuchia và TQ. Trong đó, giao thương với TQ nhiều nhất vì thị trường rộng lớn và đường biên giới rộng dài qua bảy tỉnh: Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh.

    VN thường xuất lương thực, thực phẩm, trà, cà phê, nông sản tươi, sơ chế… Nhập xăng dầu, trái cây, thuốc lá, mỹ phẩm, đồ chơi trẻ em, quần áo… Nông sản số lượng nhiều chủ yếu đưa sang TQ. Thứ gì cũng có thể xuất qua xứ đông dân đó. Cũng có một số ít xuất khẩu chính ngạch như măng cụt, sữa nhưng hầu hết đều là xuất khẩu tiểu ngạch.

    Trước kia người dân thường khổ sở vì chạy theo yêu cầu thương lái TQ. Cứ rộ những món hàng thu mua ồ ạt, được một thời gian, đột ngột bị ngưng mua chẳng hiểu lý do. Những món hàng xuất khẩu tiểu ngạch này rất lạ đời. Lái hết mua lá điều khô Bình Phước lại mua rễ tiêu Pleiku “nghe nói” làm thuốc bắc. Đồng Nai đua nhau chặt phá vườn tiêu để lấy rễ, thậm chí đào trộm rễ tiêu để bán, dân Quảng Ngãi bán cau non “nghe nói” để làm kẹo, bán ồ ạt kẻo trộm nó tới hái dùm. Vừa hái cau non bán vừa gấp gáp trồng thêm tới khi cau đậu trái thì chẳng thấy ma nào đoái hoài. Ngoài ra còn lá trầu Bình Định, chuối Phú Yên, lá khoai lang non Vĩnh Long, đuôi và móng trâu, rễ hồi, gỗ trắc non cả rễ, trâm cổ thụ… Ai cũng biết những cây trâm cổ thụ hàng trăm năm bị đốn đi sẽ khiến cây nhỏ chung quanh cũng chết vì không có gì giữ nước. Khi rừng trâm bị xóa sổ thì thương lái cũng biến mất để lại rừng xưa thành khu đất trọc…

    Việc mua các loại hàng hóa có tính chất phá hoại như mua giun đất, lá non mãng cầu xiêm, nụ hoa thanh long, lá khoai lang (làm giảm tuổi thọ và năng suất của cây), mua tận diệt gốc cây dược liệu, dây giống, móng chân trâu, thu gom nguyên liệu hải sản bằng cách phá giá khiến doanh nghiệp chế biến VN khóc dở…

    Huyện Củ Chi từng cho doanh nghiệp nước ngoài thuê đất nuôi ốc bươu vàng. Không biết chế biến ra bao nhiêu tấn thức ăn gia súc nhưng đã tàn hại nhiều cánh đồng lúa. Khi nhận ra được hiểm họa ốc bươu vàng, thu hồi đất thì con ốc đã lan ra gần khắp huyện.

    Suốt thời gian qua, VN đã quá quen thuộc với cảnh dội khẩu. Trong khi có những mặt hàng nông sản đang bị khai thác tận diệt để bán sang Trung Quốc thì một số nông sản khác tồn ứ, bỏ không do thương lái Trung Quốc ngừng mua. Hết dưa hấu, thanh long, hết chuối đến khoai mì, cá sấu, lợn dày mỡ…

    Hết khổ vì dưa lại thua vì ớt là vậy. Cũng như dưa hấu, ớt là cây trồng lệ thuộc quá nhiều vào thị trường TQ với khoảng 80% sản lượng, chủ yếu xuất tiểu ngạch nên giá cả luôn bấp bênh. Việc trồng ớt với diện tích lớn, không theo quy hoạch do thấy giá cao thì ồ ạt xuống giống, dẫn đến thua lỗ cho nông dân là điều khó tránh khỏi. Các sản phẩm dội chợ này đổ đống bên vệ đường thống thiết kêu gọi người dân giải cứu. Ai nấy cũng mủi lòng, bảo nhau dân ta dùng hàng ta, xúm lại mua giúp nông dân. Nhưng mua dăm lần thì sự việc trở nên nhàm và ai nấy chán nản. Cần phải có cách giải quyết hữu hiệu chứ cả một nền kinh tế nông nghiệp cứ trông cậy vào lòng tốt người dân giải cứu hoài thì quá vô lý.

    Các loại hàng hóa kể trên đến từ miền Trung và miền Nam đường xa tốn tiền vận chuyển ăn dầm nằm dề nơi biên giới tới mức thối hỏng, đành quay đầu xe bán tống tháo thị trường nội địa hoặc trút xuống vệ đường mặc kệ thành đống rác. Nhưng các loại nông sản trồng sát biên giới, tình hình cũng chẳng khấm khá hơn. Mùa dứa chín rộ ở Mường Khương, Lào Cai thuận tiện vận chuyển vì nhiều nơi chỉ cách TQ con suối nhỏ nhưng vẫn có lúc không bán được, chỉ chậm ba ngày là dứa hỏng, chủ hàng đành thuê người đem đổ cả xe tải bên đường, cũng như thanh long, dưa hấu, cà chua… ép đàn gia súc trâu bò ăn phát ngán.

    Rồi chuối Khánh Hòa, khoai lang Vĩnh Long, chanh Long An, tôm hùm Phú Yên, heo Đồng Tháp… Tất cả giống nhau chỉ là một kịch bản duy nhất. Mua ồ ạt giá cao lúc đầu rồi dừng lại đột ngột để hàng dồn đọng lại. Nông sản VN xuất sang TQ rất nhiều, khi TQ muốn nhập giá cao, khi nhập đủ họ dừng lại, giá rớt, hàng ngàn tấn nông sản ứ đọng, các vùng chuyên canh lao đao gây thiệt hại rất lớn cho nông dân và các doanh nghiệp.

    Xuất tiểu ngạch thường từ các doanh nghiệp nhỏ nên rất ít thông tin về việc thay đổi các chính sách của TQ, kết quả nhiều khi hàng lên đến cửa khẩu mới chưng hửng. Ví dụ vải chính vụ mỗi ngày qua cửa khẩu hàng vài ba trăm tấn. Thế nhưng bỗng nhiên tới một mùa, hàng tới biên giới khựng lại bởi hàng loạt quy định ngặt nghèo về nơi trồng, phương thức vận chuyển, giấy chứng nhận kiểm dịch chính thức, không được dùng thực vật như lá, hoa quả, rơm rạ làm vật liệu chèn lót, cành cuống không được quá 15cm… Thậm chí, nếu qua kiểm dịch phát hiện sinh vật hại, hoặc chất độc hại theo quy định của TQ, hàng sẽ bị tiêu hủy, giải quyết dịch hại, chi phí giải quyết chủ hàng phải chịu.

    Bên cạnh đó là sự đổi thay xoành xoạch chẳng biết đàng nào mà lường. Chẳng hạn, hiện nay có khoảng 50 đến 60 % cao su xuất khẩu qua TQ theo đường tiểu ngạch, qua các cửa khẩu Móng Cái (Quảng Ninh), Bát Xát (Lào Cai), Tà Lùng (Cao Bằng). Khi giá cao su tăng mạnh, các doanh nghiệp vội vã đánh hàng sang TQ thì tại cửa khẩu, TQ hạn chế mua, buộc các doanh nghiệp VN phải kéo giá thấp. Các loại hàng hóa khác cũng thế. Các công ty VN thu mua nông sản, thuê container đóng hàng tới biên giới, rồi đứng đó xếp hàng đợi… người ta tới mua. Chẳng phải đơn giản người ta tới mua mà thông qua đầu nậu với đủ thứ chi phí và trăm điều khó dễ.

    Ngoài thuận lợi về địa lý, việc đi lại tự do của cư dân biên giới hai nước và khi Hiệp định mậu dịch tự do ASEAN – TQ có hiệu lực đã giúp việc trao đổi hàng hóa lưu thông hơn trước. Nhưng do sự cạnh tranh của hàng hóa TQ tốt hơn đã biến những thuận lợi trên thành bất lợi đối với VN. Thực tế, thương lái TQ chỉ muốn mua hàng của VN qua đường tiểu ngạch do được phía họ giảm 50% thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng đối với phương thức này. Từ đó dễ mua hàng giá cao hơn doanh nghiệp trong nước thu mua. Ngược lại, phía TQ lại mua nguyên liệu thô qua đường chính ngạch vì được ưu đãi thuế để nhập các loại này.

    VN nhập khẩu ồ ạt hàng hóa của TQ, đặc biệt là thực phẩm, nguyên phụ liệu, trái cây… Do hàng TQ chủ yếu được nhập theo đường tiểu ngạch nên việc kiểm tra chất lượng rất lỏng lẻo. Đa số đặc sản Đà Lạt đều có xuất xứ từ TQ từ mứt, trái cây như dâu, lựu, táo… đến chanh, khoai tây…

    Trong khi phía TQ có hàng rào kỹ thuật gắt gao, việc kiểm tra hàng VN rất chặt chẽ tại các cửa khẩu thì hàng hóa kém chất lượng TQ lại dễ dàng xâm nhập VN như vào chỗ vườn không nhà trống. Một ví dụ cho tình trạng này là khách du lịch đi bằng đường bộ vào TQ sẽ không được mang theo bất kỳ loại trái cây nào; trong khi có thể mang ngược về VN thoải mái.

    Sau này, nhiều nơi, không đợi hàng VN chở sang biên giới mà thương lái TQ sang đầu nguồn của VN để cất hàng. Họ vào tận vườn để chọn mua trái cây, thuê người chở đi, ra tận cảng cá chọn mua từng mẻ, mở luôn nhà máy sơ chế tại chỗ rồi mới vận chuyển sang TQ. Thậm chí nhờ người (hoặc lấy vợ VN) mua dùm, thuê đất trồng trọt, chăn nuôi…

    Do chỉ xuất hàng thô, lại hàng thô từ gốc và giá cả bị thao túng như vậy, đầu nậu thu mua muốn cho giá bao nhiêu, nông dân, ngư dân… đành chịu vì không có sự chọn lựa nào khác. Thành thử hàng hóa VN một sương hai nắng cặm cụi làm lụng nhưng bán số lượng lớn vẫn chẳng được bao nhiêu lời. Bởi nói chung buôn bán tiểu ngạch chỉ giao dịch với đầu nậu chứ không thật sự tìm được đầu mối của cung và cầu.

    Việc xuất cảng tiểu ngạch cũng lắm nhiêu khê, mệt mỏi. Hôm nay nhập cửa khẩu này, mai chuyển sang cửa khẩu khác qua những con đường hư hỏng khó đi, phân loại hàng ở chỗ này, giao hàng lại nơi khác, hàng ít thì không gom đủ hàng, hàng nhiều thì bị ách lại cho rớt giá, gian nan đủ điều mà doanh nghiệp VN vẫn phải bấm bụng lao theo.

    Cũng phần nào do lối làm ăn của VN ăn xổi ở thì và không giữ uy tín như thường thấy. Dưa hấu thời gian đầu là loại trái cây ưa thích thị trường hút hàng. Thấy vậy, chỗ nào cũng đua nhau trồng, cả những nơi không hợp thổ nhưỡng, khí hậu vẫn rủ nhau xuống giống ào ạt. Kết quả chẳng những cung nhiều hơn cầu ế là đương nhiên mà chất lượng sản phẩm tệ tới nỗi mang ra chợ kêu gọi giải cứu, thiên hạ hăng hái giúp đỡ lắm nhưng mua phải những món hàng kém cỏi cũng đâm ra bớt nhiệt tâm. Trong nước còn vậy. Dội khẩu là đúng rồi! Nếu cứ bán hàng chất lượng dễ dãi sẽ dần dần phá hoại nền sản xuất. Đơn giản là doanh nghiệp buôn bán hàng hóa chất lượng thấp; không chịu đầu tư cải thiện mẫu mã, chất lượng thì cuối cùng hậu quả chính nông dân và doanh nghiệp sẽ gánh chịu hậu quả.

    Đó là không kể sau một thời gian sang VN mua bán, tìm hiểu các loại nông sản, TQ đã tự phát triển nông nghiệp của mình. Đơn cử vải thiều VN nổi tiếng. Sau nhiều năm xuất khẩu ồ ạt sang TQ thì năm ngoái thị trường VN đã bắt đầu thấy xuất hiện quả vải TQ to hơn, đẹp hơn, ngọt hơn… Nhiều người ngay trên đất vải đã phải mua loại trái cây này vừa nếm thử quả lạ vừa không thể phủ nhận ưu điểm nổi trội của nó so với các loại nông sản trong nước ít có sự đầu tư nghiên cứu để cải tạo giống má.

    Ai cũng biết rành rành như vậy nhưng thay đổi đế phát triển lên thì… khó quá. Làm không được!


    Sài Gòn Cô Nương


    Nguồn: http://vietluan.com.au


              

Trả lời

Quay về “Thời luận - Xã luận - Phiếm luận - Tạp ghi”