Nhà ngoại giao Nhật Bản lặng lẽ cứu sống hàng ngàn người Do Thái khỏi tay phát xít Đức

Trả lời
Hình đại diện
Bạch Vân
Bài viết: 3155
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 19:19
Gender:

Nhà ngoại giao Nhật Bản lặng lẽ cứu sống hàng ngàn người Do Thái khỏi tay phát xít Đức

Bài viết bởi Bạch Vân » Thứ hai 23/07/18 06:33

  •           


    Nhà ngoại giao Nhật Bản lặng lẽ cứu sống hàng ngàn người Do Thái khỏi tay phát xít Đức




    Khi trận oanh tạc chớp nhoáng của Hitler nổ ra ở Ba Lan vào năm 1939, hàng ngàn người Do Thái đã chạy chốn sang nước láng giềng Lithuania. Nhưng đó chỉ là chốn dung thân tạm thời, họ cần phải gấp rút tìm một nơi ẩn náu mới. Và trong cơn nguy khốn đó, một nhà ngoại giao người Nhật đã hy sinh cả sự nghiệp của mình để giang tay cứu giúp họ…

    Năm 1939, Sugihara Chiune được đề bạt làm Phó tổng lãnh sự của Lãnh sự quán Nhật Bản tại Kaunas, Lithuania. Nhưng đó chỉ là một phần của nhiệm vụ tuyệt mật mà ông được giao, ngoài ra ông còn phải là tai mắt của người Nhật tại Đông Âu, theo dõi nhất cử nhất động của người Đức và người Nga tại đây. Mặc dù là đồng minh của nhau, nhưng người Nhật vẫn chưa thật sự tin tưởng quân Đức. Nếu Hitler có dự định xâm lược Liên Xô, Sugihara phải lập tức thông báo mọi tình hình chiến trường cho cấp trên của ông ở Tokyo và Berlin.



    Ông Sugihara Chiune và tớ giấy thông hành mà ông đã từ đóng dấu
    (Ảnh: Gluseum)



    Nhưng có một điều ít người biết, đó là trước khi nhận lãnh trách nhiệm mới, Sugihara từng có thời gian làm việc với tư cách Nhà ngoại giao Mãn Châu. Tại đây, để phản đối sự ngược đãi của Lính Nhật với người Trung Quốc, ông đã xin thôi chức vụ Phó Ngoại trưởng tại Mãn Châu. Có thể nói, Sugihara là một người đàn ông giàu lòng nhân ái, và sẵn sàng bất tuân thượng lệnh để cứu giúp những người nghèo khó, hành động mà trong văn hóa Nhật Bản là một điều cấm kỵ.

    Một mùa hè đáng nhớ



    Quân Đức tiến vào Lithuania – Một cảnh trong bộ phim mang tên ông
    (Ảnh: Youtube)



    Mùa hè năm 1940 có lẽ là một mùa hè đáng nhớ của Sugihara, những người Do Thái lúc đó đang lẩn trốn ở Lithuania lo lắng về số phận của mình hơn bao giờ hết, bởi vùng đất nhỏ bé này đã bị chiếm đóng bởi quân đội Đức ở phía Tây và quân đội Liên Xô ở phía Đông. Chẳng mấy chốc, quân Đức sẽ chiếm trọn toàn bộ, và họ chẳng còn nơi nào khác để đi. Họ vô vọng vì không một quốc gia nào giám dung chứa những người bị Hitler truy lùng.

    Chính sách cấp thị thực của Nhật lúc đó cũng rất khắt khe, người tị nạn cần phải trải qua thủ tục nhập cảnh phức tạp và cần có đủ ngân quỹ. Hầu hết những người Do Thái đều không có đầy đủ các tiêu chí này. Mặc dù rất cố gắng xin được hỗ trợ từ cấp trên, nhưng Sugihara đành phải ngậm ngùi bó tay.



    Sugihara cấp giấy thông hành cho những người Do Thái
    (Ảnh minh họa: Youtube)



    Từ ngày 18 tháng 7 đến 28 tháng 8 năm 1940, nhận thức được rằng những người xin cấp thị thực sẽ gặp nguy hiểm nếu họ còn ở lại, Sugihara bắt đầu cấp thị thực theo cách riêng của mình. Sau nhiều đêm suy nghĩ và bàn bạc với vợ, ông đã bỏ qua mệnh lệnh của thượng cấp để trao cho những người Do Thái một thị thực thời hạn mười ngày quá cảnh qua Nhật Bản.

    Với vị trí thấp kém của mình cùng văn hóa của bộ máy quan liêu Dịch vụ Ngoại giao Nhật Bản, đây là một hành động bất thường thể hiện sự bất tuân. Ông còn chủ động liên hệ với các quan chức Liên Xô, những người đồng ý để cho những người Do Thái di chuyển qua đất nước mình thông qua Tuyến đường sắt xuyên Sibir với giá vé gấp năm lần giá vé tiêu chuẩn.

    Nhà ngoại giao giàu lòng nhân ái kể từ khi bắt đầu kế hoạch, đã dành 18-20 giờ mỗi ngày để cấp thị thực cho người tỵ nạn. Một ngày làm việc ông cung cấp số lượng giấy thông hành tương đương với một tháng làm việc thông thường. Cho đến ngày 4/9 tức là khoảng 1 tuần sau đó, ông buộc phải rời khỏi nhiệm sở. Cho đến lúc này, hàng ngàn người Do Thái đã được ông cứu mạng, không chỉ họ, mà cả gia đình họ cũng đều đủ tư cách để bước lên chuyến tàu sang Nhật.

    “Ngay cả một người thợ săn cũng không nỡ giết một con chim khi nó bay đến bên anh ta tìm nơi ẩn náu”
    – Câu trích dẫn yêu thích của Sugihara.

    Theo nhiều nhân chứng, mặc dù không còn được làm việc tại nhiệm sở, Sugihara vẫn tiếp tục viết những tờ giấy thông hành tại khách sạn của mình. Trong những nỗ lực cuối cùng, vô số những tập giấy chỉ có dấu lãnh sự đã đóng khống được chuẩn bị vội vã. Sau khi lên tàu tại nhà ga Kaunas, ông ném những tờ thị thực ra khỏi cửa sổ xe lửa vào đám đông những người tỵ nạn đang tuyệt vọng, ngay cả khi xe lửa đã đóng cửa.



    Đoàn người Do Thái chờ đợi để lên tàu rời Lithuania
    (Ảnh: Youtube)


    Khi chuẩn bị khởi hành, ông đã nói, “Xin hãy tha thứ cho tôi. Tôi không thể viết được nữa. Tôi mong mọi điều tốt đẹp nhất sẽ đến với các bạn.” Khi ông cúi đầu thật sâu trước mọi người đứng trước ông, ai đó đã kêu lên, “Sugihara. Chúng tôi sẽ không bao giờ quên ông. Tôi chắc chắn sẽ gặp lại ông!”


    Cuộc đời đau khổ của một người hùng

    Sự cố gắng của Sugihara cuối cũng đã được đến đáp, trong một thời gian ngắn, ông đã cứu sống gần 6.000 người Do Thái. Những ngày tháng sau đó, Sugihara bị thuyên chuyển công tác nhiều lần, gia đình ông còn bị quân đội Liên Xô giam giữ trong 18 tháng và cuối cùng trở về Nhật với thông báo hủy tư cách Nhà ngoại giao vì “sự cố ở Lithuania”. Sugihara vật lộn với cuộc sống mưu sinh nuôi sống gia đình, và những nỗi đau liên tiếp kéo đến khi hai người con của ông lần lượt qua đời. Về sau này ông buộc phải sống một cuộc đời lặng lẽ ở Nga, xa gia đình và xa quê hương.



    Về sau này ông chỉ còn một đứa con duy nhất ống sót
    (Ảnh: VDU)



    Mọi chuyện cứ thế lặng lẽ trôi qua cho đến 45 năm sau, những người tỵ nạn được ông cứu sống tụ lập tại quốc gia Do Thái của họ – Israel. Người ta đã nỗ lực đề nghị chính phủ nước này trao tặng cho Chiune Sugihara giải thưởng “Người Ngoại Quốc Công Chính” vì sự dũng cảm và hành động trượng nghĩa mà ông đã làm. Tuy nhiên lúc này Sugihara đã quá yếu để tới Israel, nên vợ ông và con trai út Nobuki chấp nhận thay mặt cha mình nhận vinh dự này. Sugihara và con cháu của ông đã được trao quốc tịch Israel vĩnh viễn.

    Sự vĩ đại không cần đến danh tiếng

    Sugihara đã qua đời vào một năm sau khi được trao danh hiệu. Ngày 31/7/1986 một đoàn ngoại giao Do Thái viếng thăm tang lễ của vị ân nhân dân tộc mình, bao gồm cả đại sứ Israel tại Nhật Bản. Đến lúc này hàng xóm của gia đình mới biết câu chuyện thực sự của Sugihara. Một người đàn ông đánh đổi sự nghiệp đang thăng tiến để lặng lẽ cứu sống hàng ngàn sinh mạng đáng thương. Sau này người ta đã xây dựng một bộ phim để tri ân vì những gì ông đã làm.



    Một giấy thông hành được ông thông qua (Ảnh: i24NEWS)



    Khi được phỏng vấn lý do cấp thị thực cho người Do Thái, Nhà ngoại giao người Nhật từng giải thích rằng những người tị nạn là con người, và rằng họ chỉ đơn giản cần giúp đỡ:

    “Bạn muốn biết về động lực của tôi (khi làm việc này), đúng không? Vâng. Nó là tình cảm mà bất kì ai đều sẽ có khi anh ta thực sự nhìn thấy những người tị nạn mặt đối mặt, cầu xin với những giọt nước mắt của họ. Anh sẽ không thể không thông cảm với họ. Trong số những người tị nạn là những người già và phụ nữ. Họ đã tuyệt vọng đến nỗi họ đã đi xa như vậy để hôn giày của tôi.

    Vâng, tôi thực sự chứng kiến ​​những cảnh như vậy với đôi mắt của mình. Ngoài ra, tôi cảm thấy vào thời điểm đó, chính phủ Nhật Bản đã không có bất cứ ý kiến ​​thống nhất nào tại Tokyo. Một số nhà lãnh đạo quân sự của Nhật Bản chỉ là sợ hãi vì những áp lực từ phía Đức quốc xã; trong khi các quan chức khác của Bộ Nội vụ chỉ đơn giản là mâu thuẫn”.


    …Không có gì sai trong việc cứu lấy mạng sống của nhiều người….Tinh thần nhân đạo, từ thiện…tình hữu nghị láng giềng…với tinh thần này, tôi đã mạo hiểm để làm những gì tôi đã làm, đối đầu với tình huống khó khăn nhất này—và vì lý do này, tôi đã đi tới phía trước với lòng dũng cảm gấp bội.”



    Nguyên Trực


    Nguồn:https://www.dkn.tv


              

Trả lời

Quay về “Làm Người”