Phan

Hình đại diện
Bạch Vân
Bài viết: 3095
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 19:19
Gender:

Re: Phan

Bài viết bởi Bạch Vân » Thứ sáu 23/06/17 10:12

  •           


    Sài gòn ơi…!


    Nhớ Nhà – Tranh: Mai Tâm

    Dường như trong ai là người Việt nhưng sống ở hải ngoại đều biết bản nhạc “Sài gòn vĩnh biệt” của nhạc sĩ Nam Lộc. Riêng tôi đã gặp anh nhiều lần, ở nhiều nơi trên khắp nước Mỹ. Nhưng chỉ là công việc và công việc bù đầu của anh chị em làm truyền thông trong những dịp đại hội của cộng đồng, đâu có thời giờ trò chuyện riêng. Rồi một hôm gặp nhau Dallas trong kỳ Đại hội Cựu tù nhân Chính trị. Đêm về, những anh chị em truyền thông, ca nhạc sĩ thường tụ tập ở nhà thân hữu nào đó để trò chuyện, ăn uống và nghỉ ngơi, chứ đâu ai muốn ở khách sạn một mình cho buồn. Tôi nhớ ở sân sau nhà anh Thạch và chị Khanh, tôi mới thua ca sĩ Thế Sơn một ván cờ tướng nên phải nhường chỗ cho đối thủ kế tiếp vì Thế Sơn tuổi trẻ nhưng cao cờ!

    Tôi tản bộ theo những lối đi quanh nhà anh chị Thạch cho mát với gió về khuya vì mùa hè Dallas thì nóng khỏi nói, và gặp anh Nam Lộc cũng tản bộ, có lẽ anh có việc riêng! Nhưng không, chỉ là trò chuyện với gia đình vì đại hội lớn nên anh phải ở lại Dallas đến mấy ngày. Thế là tôi với anh trò chuyện sau khi anh cúp điện thoại. Tôi hỏi: “Anh Lộc, tâm trạng và tâm thức của anh khi viết bài Sài gòn vĩnh biệt ra làm sao? Anh có hài lòng với ca từ mà anh đã dùng để diễn tả không?”

    Tôi nhớ anh trả lời, “ tâm thức của anh, cũng như những người bạn, nhiều người khác không quen nhưng cũng vừa rời khỏi Sài gòn thất thủ giống nhau ở cảm giác tức tưởi như mình bị rứt ra khỏi nơi chốn mà mình chưa từng nghĩ đến trước đó! Nên tâm trạng cũng giống nhau là không biết bao giờ có thể trở về. Từ những cảm nghĩ cá nhân mà lại rất chung đó, anh viết bài Sài gòn vĩnh biệt như ghi lại một cảm xúc rất chung của mọi người từ những tâm tư riêng… Còn ca từ thì tự nhiên là vậy. Bởi anh chỉ cốt sao diễn tả đúng cảm xúc…”

    Chỉ là trò chuyện giữa anh em với nhau trong thời lượng đốt hết điếu thuốc rồi vào nhà để cùng mọi người trò chuyện. Nhưng “cảm giác mình bị rứt ra khỏi nơi chốn mà mình chưa từng nghĩ đến trước đó…” thì ở lại trong tôi vì chính tôi cũng cảm thấy thế khi đặt chân đến Mỹ. Tiếp theo là thời gian lâu sau tôi vẫn nghĩ thế chứ lại không quan tâm nhiều tới chuyện hội nhập. Đời sống Mỹ có thể vắt kiệt sức lực của người mới đến vì phải tạo dựng lại đời sống từ đầu, nên không có, không còn thời gian để nghĩ ngợi nhiều. Nhưng rồi đời sống ổn định dần theo thời gian định cư, thì tâm tư vẫn không ổn định được bằng một sự chấp nhận cần thiết để an nhiên. Đâu đó trong đêm ngày hằng sống với tiện nghi ở nước Mỹ, nhưng vẫn mơ hồ về Sài gòn như mới hôm qua. Sự rứt ra đau nhói không hề giảm trong tâm thức, chứ không phải nổi đau bị rứt ra đã lên sẹo mấy mươi năm sống ở hải ngoại nên chỉ buồn khi nhìn lại thời gian và tâm tư mình.

    Rồi những người bạn ở địa phương cũng thường chia sẻ với tôi cảm nghĩ, cảm xúc về Sài gòn qua làn gió cuối năm, mùa hạ đến, xuân về, ngày tết, mùa thu, lễ, giỗ những vị anh hùng dân tộc… Đâu đó trong tâm thức những người đã từng sống và rời khỏi Sài gòn với muôn ngàn lý do khác nhau thì vẫn chung nhau một nỗi nhớ Sài gòn muôn vẻ bởi tự thân Sài gòn (nhìn lại) thì đó là một thành phố bao dung với tất cả mọi người. Ai vì hoàn cảnh nào phải đến sinh sống ở Sài gòn thì liền sau những bỡ ngỡ đầu tiên là sự cảm mến người Sài gòn và những người đến Sài gòn trước mình, là nét đẹp rất riêng của Sài gòn so với các tỉnh thành trên toàn quốc. Nên người đến rồi khi phải đi đều lưu luyến mãi dù hoàn cảnh nào, nguyên nhân gì của mỗi cá nhân có mặt ở Sài gòn thì vẫn chung nhau cảm giác bị rứt ra khi phải rời xa Sài gòn.

    “Sài gòn ơi…!” Như một lời ta thán buồn, nhưng cũng lại là một nỗi nhớ yêu thương không gì khoả lấp được. Bởi Sài gòn khác hết mọi nỗi chia xa là cảm giác bị rứt ra của chung mọi người đã từng sống, hít thở không khí Sài gòn…

    Sáng nay có một độc giả vong niên ở địa phương đã hẹn tôi uống cà phê cuối tuần. Sau những lời thăm hỏi nhau về sức khoẻ và gia đình. Ông mở điện thoại đưa cho tôi đọc vài đoạn văn về Sài gòn mà ông đã cố tình lưu lại cho tôi đọc. Và hỏi tôi có còn giữ đoản văn tôi đã viết về Sài gòn từ nhiều năm trước, ông muốn đọc lại. Bởi ông là người Sài gòn nhưng trước thế hệ tôi, nỗi nhớ trong ông về Sài gòn đã khan hiếm người cùng thời để chia sẻ về Sài gòn thời Tây. Tôi đọc văn của những người không quen nhưng thật gần gũi như người cùng thời Mỹ với nhau ở Sài gòn nên nỗi nhớ không có ranh giới ý thức hệ, bất luận là nam hay nữ; chỉ là nỗi nhớ chung về một Sài gòn bao dung với mọi người, muôn đời . Xin chép lại đôi dòng…



    Nhìn từ một phía…

    Sài Gòn là miền đất lạ kỳ. Nó kỳ lạ đến mức nhiều người chẳng biết viết gì nói gì về nó cho thỏa đáng. Nó khiến cho người ta nhớ nó khi đang ở trong lòng nó, và người ta thương nó bằng một thứ tình cảm mơ hồ nhưng mãnh liệt, như một kiểu tình nghĩa khác, tương tự tình quê hương.

    Tôi đến Sài Gòn lần đầu tiên năm 1991, trên một chiếc xe cấp cứu. Không phải xe chở tôi, nó chở một người bệnh viêm màng não từ Quảng Ngãi vào Chợ Rẫy, tôi xin quá giang. Tôi nhớ, khi anh tài xế lần đầu tới Sài Gòn đã đi nhầm đường một chiều và bị hàng loạt xe gắn máy suýt đụng phải. Tôi nhớ mình đã tháo cái nhẫn hai chỉ vàng trên tay để nhét vô giày vì nghe nói cướp ở Sài Gòn sẵn sàng chặt tay ai đó chỉ để cướp một chỉ vàng.

    Ngày đó, điều nhận thấy đầu tiên của tôi là Sài Gòn quá lớn và quá đông. Tới bây giờ, tôi vẫn thấy Sài Gòn quá lớn và quá đông người – Sài Gòn lớn, từ ruộng đồng Hóc Môn ra đến biển Cần Giờ, từ vườn cây Thủ Đức mút đến miệt Bình Chánh xa xôi. Sài Gòn đông. Ngoài đường, trong chợ, trong hàng quán đều ngùn ngụt người. Từ khu Chợ Lớn đầy người Hoa đến khu Dân Sinh muốn kiếm cái gì cũng có. Từ những đường phố tấp nập người xe đến những ngôi chợ bán buôn thâu đêm suốt sáng. Đâu đâu cũng đầy người, càng ngày càng đông. Người ta bảo rằng, hơn phân nửa số người bạn gặp ở Sài Gòn không phải là người Sài Gòn chính gốc, như tôi chẳng hạn.

    Ở Sài Gòn có một thứ không khí quánh đặc bởi bụi, khói, bởi mùi mồ hôi, mùi đồ ăn, bởi tiếng xe, tiếng người, bởi muôn ngàn thanh âm mà một khi đã quen hít thở nó, bạn sẽ không bao giờ quên được. Ở Sài Gòn thỉnh thoảng có người chạy theo bạn ngoài đường chỉ để nhắc bạn nhớ gạt chân chống xe hoặc coi chừng rớt cái ví lòi ở túi quần sau. – Hà Phú


    Cảm ơn một người bạn. Qua văn, không cần biết anh là ai, từ đâu đến, để làm gì, và đã đi đâu…? Nhưng điều cần nói với anh nhất là lời cảm ơn anh đã ghi lại tâm tình của một người không phải người Sài gòn, nhưng đã “yêu quá đi mất rồi” thành phố bao dung ấy.

    Tôi đọc đoản văn khác…,

    Chuyện vặt…

    Anh Chương vô bệnh viện. Anh em thằng Tài thay nhau vào thức đêm chăm non. Mai thằng Tài học, đêm nay anh nó ngủ canh ngoài hành lang. Thằng Tài quê Quảng Nam, vô Sài Gòn học cao đẳng. Tối nó bưng bê cho nhà hàng kiếm chút đỉnh đặng giúp anh đóng tiền trọ.

    Vô bệnh viện thăm anh Chương, bắt máy gọi ảnh. Thằng Tài nghe máy rồi ra cửa bệnh viện đón. Nó đứng tần ngần ngoài phòng mổ dòm vô, nói chú Chương vừa vô trỏng. Con mắt nó đỏ lè, bứt rứt không yên. “Chú Chương vầy, cháu phải nghỉ bán quán vài hôm. Có xin ông chủ rồi”.

    Hỏi thằng Tài, chớ mày là gì của ông Chương? Sao hổng gặp mày bao giờ? Nó gãi đầu nói dạ hông. Con với chú Chương đụng xe ngoài ngã tư. Con đi mần về khuya mệt, gặp chú xỉn nên đụng. Con đưa chú vô đây. Anh em thay nhau chăm. Chừng nào chú Chương khỏe, con đi làm lại. Chú bị bể xương bả vai, sợ nặng quá chú à!

    Vậy chớ ổng xỉn, sao mày hông dọt luôn? Thằng nhỏ gãi đầu cười méo xệch: Tại con thấy kỳ, chú bị vầy mình đành lòng bỏ đi sao đặng.

    Thằng Tài ngồi ngoài phòng mổ, mở nắp hộp cơm lùa nuốt vội. Lâu lâu nhón cái cổ dài tòng ngó vô bên trong cánh cửa đục nhòe.

    Cái thằng. Thiệt thương! Anh Chương xuất viện rồi. Bị gãy xương đòn. Chi phí chừng 16 triệu đồng. Họa vô đơn chí, anh vừa bị công ty cho thôi việc tài xế. Đại gia đình anh khá khẩm lắm. Nhưng hoàn cảnh riêng anh, hai thằng cu tuổi ăn tuổi lớn, vợ lọt tọi đi giao báo kiếm bạc cắc. Cũng khổ quá chừng.

    Thằng Tài đụng ảnh, mấy đêm anh em thay nhau chăm anh trong bệnh viện. Bọn nó mang tiền tới. Anh Chương không nhận. Ảnh nói bà mẹ tụi nó, ba mẹ bán vé số ở quê, thằng anh vừa đại học ra trường, nuôi thằng Tài học cao đẳng, thêm một đứa em gái nữa. Thằng Tài đi bưng bê ở nhà hàng Ngọc Sương.

    Hôm đưa anh vô cấp cứu, thằng Tài khóc quá trời. Nó run run dúi vào tay anh hai triệu đóng trước viện phí. Nó rách bươm, làm gì có tiền. Nhân viên nhà hàng phước đức hùn hạp được chừng ấy tiền đưa cho nó. Thấy nó khóc quá chừng, anh nhận. Đợi nó bình tâm, anh kêu nó ra quán cà phê trả lại nói mày cầm về mấy anh em lo cho nhau. Thằng Tài khóc nữa.

    Mình nói chờ 16 triệu cũng căng hà. Anh Chương cười khà khà nói kệ bà nó, mình ráng xoay được, chớ tụi nó khổ vầy mình nỡ bắt đền sao đành. Anh em tụi nó thay nhau chăm mình như người thân, mình cũng đỡ tủi rồi. Tiền bạc dễ kiếm chớ người tử tế như anh em nó khó à. Cái thằng dễ thương hiền khô hà, dòm tội lắm…

    Mình nói, gãy xương đòn vậy chớ có cầm ly được hông cha nội? Thằng chả cười hằng hặc nói thôi mày tha cho tao, mấy cha bác sĩ bắt uống cả núi thuốc muốn lòi con mắt. Chừng nào quất được tao hú máy liền. – Tiến Tường


    Đọc những đoản văn không rõ xuất xứ, không đầu không đuôi, lại thích. Tôi đọc hai ba lần về những người không quen mà thật gần như bạn hữu báo tin về Sài gòn mà tôi đã bị rứt ra từ lâu rồi! Ở đó có hết những mảnh đời trôi dạt… về Sài gòn; Sự bon chen của đua đòi, hà khắc của chế độ; hố phân cách giàu nghèo đến mức báo động cho một thành phố không ngủ. Nhưng những gì thấy được chỉ là bề nổi của tảng băng tan. Những nghịch lý sẽ phải chấm dứt theo đà văn minh nhân loại, vấn đề chỉ còn ở thời gian mà thôi. Điều cốt lõi ở mảnh đất ân tình ấy là hoa lòng vẫn nở từ nghịch cảnh. Thậm chí càng nghịch cảnh thì những người cùng khổ càng tử tế với nhau hơn. Hãy tin tưởng vào lòng người đã hít thở không khí Sài gòn sẽ tử tế từ đó về sau dù hoàn cảnh buộc rời xa vùng đất bao dung ấy thì ân tình có được với mưa nắng và con người Sài gòn sẽ nuôi dưỡng từng tâm tư nhỏ nhoi, phiêu bạt… thành người.

    Cảm ơn những người bạn chưa bao giờ gặp.

    Tôi về tìm lại để gởi cho ông bạn (độc giả lão thành) ở địa phương đoản văn ông hỏi tôi sáng nay. Thì ra đó là đoản văn tôi ghi lại cảm xúc những ngày sắp tết của một người con của Sài gòn là tôi, vì mẹ tôi sinh ra tôi ở Sài gòn. Đứa con phiêu lãng của mẹ sanh là người bắc di cư, và mẹ dưỡng là Sài thành với những vỉa hè, góc phố nào cũng có dấu chân đứa con nghịch ngợm. Nhưng đã nửa đời phiêu hốt muôn phương. Nhận được tấm thiệp Giáng sinh của bạn bè từ Sài gòn gởi ra bằng đồng lương khó khăn của giới giáo viên trong nước bây giờ. Sài gòn trong tôi là người mẹ dưỡng mà tôi không bao giờ nghĩ khác được là mình bị rứt ra…



    Sài gòn trên cánh thiệp…

    Sài gòn biến động: thành phố nhiều cảnh sát, quân đội, biểu tình, đảo chánh, giới nghiêm, tự thiêu… Không gian đại bác vọng về, chiến tranh ngày càng khốc liệt. Tôi lớn lên. Sài gòn vẫn mini jupe trên đường Tự Do, áo trắng Trưng Vương trắng cả con đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, đường Cường Để cây cao bóng mát chạy dài xuống xưởng Ba Soon, trời mưa-nắng chẳng vì đâu như tâm tình con gái. Rạp Đa Kao ồn ào, sân banh Hoa lư cháy nắng, hồ bơi Yết Kiêu, bi da Nguyễn Bỉnh Khiêm tập tành nhả khói lên tàn me. Chiều mưa ăn bún ốc ở Vườn Chuối thơm ngon cả đời. Chợ tết Bến Thành huyên náo, cyclo đạp tà tà, cyclo máy khói mù, xe ba bánh, xe bò vào thành phố, ghế đá công viên thấp thoáng nhân tình. Những bà mệnh phụ giàu có đi bắt ghen bằng xe hơi Peugeot, tiểu thư bước xuống từ những cửa xe bóng loáng, sà vào một gánh bò bía, xe gỏi khô bò… hồn nhiên. Ngồi uống ly nước mía – một hôm – thấu ngọt, vì – biết đẹp. Nói làm sao hết về Sài gòn trong ký ức.

    Sài gòn trên cánh thiệp đã vắng linh hồn ngày tháng cũ! Thời gian mang đi nhiều điều trừ giấc mơ tìm lại dấu chân trên hè phố… “Saigon ơi, tôi đã mất Người trong cuộc đời, Saigon ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời.” Sài gòn trên cánh thiệp chỉ còn những vụn vỡ của ngày tháng; đã tan biến ước mơ ngày cũ. Viết, như níu kéo thời gian, hoài niệm, hồi tưởng qua cánh thiệp bạn bè về khung trời một thuở; những con đường lất phất mưa bay, đường nhà ai vắng ngắt, hàng cây lim dim ngủ – con đường có cánh hoa vàng… mây vẫn trắng trôi theo nhau biền biệt/ em có về con đường ấy nữa không! Sài gòn của tuổi nhỏ, bạn bè, người mơ, bác xích lô ở dốc cầu Công Lý, có tấm bản đồ trên lưng áo bạc vì mồ hôi muối; bóng đêm đồng lõa với ăn sương, người bạn nhỏ đánh giày ngủ ở mái hiên Đinh Tiên Hoàng, có cô em bán thuốc lá lẻ trong cái hộp gỗ đằng Sở thú. Hai chị em sanh đôi nhà kia như hai giọt nước chỉ thèm đi học nhưng phải đi bán báo. Hôm bán báo trời mưa – mặc áo mưa vẫn ướt nên hết vốn. Cha đánh, mẹ mắng vì sinh nhai chứ không đánh chửi vì trốn học đi bơi, đá banh, thụt bi da, hút thuốc lén, đánh lộn… như tôi. Hai giọt nước đã ướt đẫm linh hồn tôi thuở nhỏ nên mưa Sài gòn không bao giờ khô tâm tưởng này.

    Sài gòn nhạt nhòa trên cánh thiệp. – Ai còn, ai mất, ở đâu, lãng đãng, lưu lạc, thật gần… hụt biến. Sài gòn trên cánh thiệp, chở những tâm tình ký ức về đâu, những con đường ta qua đến nay bao tuổi… Sài gòn với mươi đại lộ, trăm đường lớn, ngàn đường nhỏ, vạn hẻm quanh co… hắt hiu vàng ánh điện câu. Sài gòn cười gượng để đêm về trút hết tâm tư lên blog, lên những con đường vạt gót chân xiêu như tâm tư bạn bè còn trong nước. Nhưng hơn gì người chân trời góc bể với mùa thu lá rụng, cái rét đầu đông – hồn cố hương bay…

    Ai vẽ đường Tự Do hời hợt trên cánh thiệp như thiếu tôn trọng những dấu chân đã đi về trên con đường ấy, mây ngàn năm biết quay về với linh hồn dị thảo. Sao con đường thiếu dấu chân ai… em còn nhớ hay em đã quên, nhớ Sài gòn mưa rồi chợt nắng. Đường Catinat trong sách sử thành đường Tự Do sau 1954. Góc đường Lê Thánh Tôn, có quán café La Pagode, nhà hàng Givral, Brodard, thả xuống Continental, Eden, toà nhà Quốc hội, Caravelle Hotel, tới Majestic – bến Bạch Đằng. Con đường nổi tiếng thời thượng với Mai Thảo, Thanh Nam, Nguyễn Đình Toàn, Thái Thủy, Hoài Bắc, Cung Tiến, Đinh Hùng… “Đường vào tình sử”. Quán La Pagode đặc biệt không có cửa, không có kính, không có màn, nên ngồi ở những bàn gần đường, bàn kê ngoài hè phố, sẽ dễ cảm nhận tà áo ngang qua, thoang thoảng mùi nước hoa sang trọng Chanel Number 5 của con nhà giàu hay mùi Tabou quyến rũ của cave. Ở La Pagode, order một ly cà phê hay một chai bia 33, bia con cọp, rồi thơ thới hân hoan mà nhìn đời, ngắm người…

    Sau 1975, Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do. Con đường vắng rì rào cơn mưa đổ từ Bến Bạch Đằng, khách sạn Majestic tới Vương Cung Thánh Đường, nhà Bưu điện… chỉ thấy mưa sa trên nền cờ đỏ. Sau lưng nhà thờ là đường Duy Tân. Con đường tình ta đi của nhiều thế hệ Sài gòn. Trên cánh thiệp Giáng sinh hôm nay, Sài gòn đã vắng linh hồn lá đổ, ai chờ mong em chín đỏ trái sầu. Tình nhân không còn hôn nhau nơi ghế đá công viên, cùng đi nhà sách Khai Trí để gặp gỡ văn minh thế giới, hay vào rạp ciné Eden, Rex tránh nắng nung người. Không còn người làm thơ áo lụa Hà Đông vì con gái bây giờ…

    Sài gòn trên cánh thiệp chỉ còn hai tiếng cảm ơn bạn bè hơn gợi nhớ, hoài niệm về khung trời từ đó ra đi… – (Phan – Giáng sinh 2008)


    Sài gòn ơi! Thôi đã hết thời gian tuyệt vời. Nhưng những con người biết cảm nhận và yêu qúy Sài gòn theo duyên phận một lần đến… là để đi, để rời xa, để yêu thương mãi về mảnh đất bao dung với tất cả mọi người. Viết về Sài gòn thật không dễ tìm ra thù hận từ một cá nhân. Nếu có hận chỉ là người hận người vì người phụ người ở Sài gòn chứ không ai hận Sài gòn từ trong tâm tưởng; từ một lần đến… là để đi, để rời xa, để yêu thương mãi về mảnh đất bao dung với tất cả mọi người.

    Phan


    Nguồn:http://t-van.net

              

Hình đại diện
Bạch Vân
Bài viết: 3095
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 19:19
Gender:

Re: Phan

Bài viết bởi Bạch Vân » Thứ hai 07/08/17 18:10

  •           

    Có tin có lành…





    Chúng tôi ngồi nói đủ thứ chuyện trên đời. Nhưng câu chuyện rách việc nhất là đồng nghiệp mà lại đồng hương nữa đều hào hứng với chuyện chị Nga đã chính thức quy y vào tháng trước. Chị không xuống tóc, không ăn chay trường, không thoát ly gia đình, nhưng từ nay sẽ mặc áo xám đi chùa với pháp danh của một Phật tử. Anh chị em đùa là chị Nga đã vô chính thức cửa thiền môn…

    Câu chuyện từ đó xoay quanh pháp danh của chị Nga là “Diệu Tâm”. Thế là anh chị em tha hồ bàn về hai từ “Diệu Tâm”, còn người Phật tử mới toanh thì được nếm trải bài học đầu tiên sau khi có tên đạo giữa đời ma quỷ!

    Bức tranh toàn cảnh như một bầy sói xơi tái một con cừu, dù chỉ bằng từ ngữ của những người chất vấn, đặt câu hỏi với chị. Nhưng (nếu) bạn chỉ là người ngồi nghe thì chắc bạn dù trước đó chưa tin thì nay bạn sẽ tin là khẩu nghiệp trong kinh Phật nói về người ta dễ sợ thật!

    Dù sao chị cũng không trả lời được câu hỏi là: “Có Phật hay không? Nếu có, thì Phật ở đâu?”

    Với một người đàn bà bình thường, và nhất là khi đã bước qua tuổi sáu mươi, chị chỉ trả lời được là: “có tin có lành”!

    Cánh đà bà đương nhiên đồng thuận với chị. Nhưng cánh đàn ông khi nói chuyện với phụ nữ mà liên hệ không có chữ “vợ” trong xưng hô như: vợ tôi, em vợ tôi, chị vợ tôi, má vợ tôi…, bà ngoại vợ tôi, thì đàn ông chẳng kiêng nể gì ai cả vì với họ là nhất vợ nhì trời như nhau, thiên hạ là cỏ rác thì kể xá gì!

    May sao có ông Hiểu góp chuyện,

    “Tôi xin thưa với quý anh chị em mình ở đây là tôi chưa từng ăn chay được một bữa trong đời tôi. Nhưng vợ tôi muốn đi chùa thì tôi chở đi. Rồi thì tôi ra quán với anh em quen biết cho đến khi mẹ xấp nhỏ gọi thì tôi ghé chùa rước nhà tôi về…”

    “Chuyện có vậy cũng kể! Anh Hiểu khỏi giới thiệu thì mọi người cũng biết là anh vô duyên nhất rồi…!” – Một người nói.

    Anh Hiểu đáp, “Từ từ đã. Hôm nay chúng ta có tới tám tiếng ngồi không. Bây giờ mới giờ giải lao thứ nhất, tức là mới ngồi ngáp ruồi được có hai tiếng mà đã nóng vội thế…!”

    Anh được nhiều người đồng thuận nên anh vô chuyện,

    “… Có hôm con gái tôi hỏi mẹ, ‘Mẹ đi chùa hoài. Vậy mẹ có biết ông Phật là ai không? Mẹ đã gặp chưa?’ Tôi hoàn toàn không ngờ vì lần đầu tiên tôi thấy bà vợ hiền lành của tôi chả long lanh hai con mắt mà là long lên giận dữ. Trong khi đứa con cũng đâu còn mười lăm, mười bảy mà ăn nói thiếu suy nghĩ. Nó đã ẵm con về thăm ông bà ngoại rành rành.

    Biết mẹ giận nên nó lủi vào phòng nó, căn phòng từ thời còn ở nhà với cha mẹ, tôi vẫn giữ nguyên. Nhà tôi cũng tắt bếp (đang nấu vài món cho con cháu ăn), rồi cũng vô phòng, khép cửa lại. Còn hai ông cháu tôi ngoài phòng khách. Tôi nghĩ, giá thế giới không có đàn bà thì hoà bình muôn năm. Vì ông cháu tôi chẳng biết liếc ngang nguýt dọc gì sất. Tôi cho nó tung hoành cả vại kem lớn mà tôi tìm được trong tủ lạnh, thế là thằng bé để tôi tha hồ đọc báo!

    Chuyện lau chùi dọn dẹp chiến trường của nó thì đã có mẹ, có bà của nó. Phải không?

    Nhưng các anh chị ạ! Có tin có lành. Tôi tin trời phật chứ không phải không tin vì gia đình thờ cúng ông bà, đi chùa đã bao đời. Tôi tin trời phật ngó xuống, không ngờ sau chuyện giận hờn ấy của vợ tôi, thì người chở vợ tôi đi chùa khi muốn là con gái tôi chứ không phải là tôi nữa. Dù cực hơn chở bà ấy đi chùa vì mình được ra quán với bạn bè, nay thì ở nhà trông cháu mới biết thế nào là vụng đường tu…”

    Cánh đàn bà bai bải phản đối – “đàn bà đi chùa với nhà thờ không phải là trốn việc nhà đâu nha! Đừng có ăn nói hồ đồ…”

    Nhưng cánh đàn ông thì ông hay nói nên tự cho mình là đại diện, “Ê. Cái ông Hiểu này nha! Nói ông vô duyên thì ông cãi. Nhưng ông có duyên chỗ nào khi bắt mọi người nghe chuyện nhà ông? Mọi người đang muốn biết là có Phật thật không? Nếu có, thì Phật ở đâu? Mọi người đang muốn nghe chị Nga đã quy y thì (chắc) biết!”

    “Thì từ từ đã… mới được có ba tiếng thôi! Còn tới năm tiếng ngồi đồng cơ mà!

    Hiểu tôi thưa các anh chị em ở đây! Có nhiều đêm sau khi vợ tôi quy y. Tôi nghĩ đến người nằm bên cạnh mình đã không còn là vợ mình vì toàn tâm của bà ấy bây giờ hướng Phật. Tôi đằng hắng, ho hen gì cũng chỉ làm phiền toái cái xác người tu hành thôi!

    Nên tôi ngủ chay từ ngày vợ bỏ tôi theo Phật…

    “Cái ông quỷ ăn nói bậy bạ! Trời đánh không kịp thấy check cuối tuần. Tuần này lãnh lương đó!” Không nhớ bà chị nào nói nhưng cả đám được trận cười…

    Rồi anh Hiểu nói tiếp: “Tôi kính Phật bằng tâm từ bé, nhưng tới già mới biết khó ăn thua đủ. Cái ông… Phật không nói thì ai cũng tin. Trong khi tôi thành tâm bạch thoại thì không ai hiểu. Bây giờ thì mọi người chê trách tôi đi. Rồi thì tiệc tùng, đám cưới, đám ma… chúng ta sẽ gặp ông xã của chị Nga. Khi ấy đừng ai tới vái tôi như Phật sống đấy nhá!”

    “Đủ rồi nha ông Hiểu! Chuyện của ông tới hồi vô duyên thiệt rồi đó!”

    “Thì từ từ… tới ăn cơm. Tôi dứt.

    Chuyện là vầy! (Anh Hiểu kể tiếp). Nói đi thì phải nói lại. Nhà tôi khuyên nhủ tôi nên về Việt nam thường để thăm ông bà nội của xấp nhỏ. Hết ý nhà tôi khuyên nhủ tôi năng về thăm ông bà nội xấp nhỏ sau một tối đi chùa về. Tôi đoán chẳng qua nhà tôi (chắc nghe thầy kể) rồi kể lại cho tôi nghe…

    Nhà tôi kể: Có một người kính Phật tới bỏ hết mọi thứ để dành phần đời còn lại – đi tìm Phật. Người ấy đi không biết đã bao lâu, bao xa… Tới một hôm gặp vài vị sư đang đi khất thực. Người ấy mạo muội chặn đường để hỏi, ‘Thưa các đại sư, tôi đi tìm Phật đã lâu. Nhưng không biết người ở đâu? Mong các đại sư chỉ giúp.’

    Có một vị sư bước ra trả lời, “Ông hãy trở về nhà ngay. Cha mẹ của ông là Phật. Các cụ đang chờ đợi ông trong tình thương yêu, mong chờ ông với hết lòng thương nhớ…”

    Người ấy nghe lời vị sư khoan nhã nên vội trở về nhà. Ông vui sướng được phụng dưỡng cha mẹ già lúc cuối đời. Trong khi các đệ tử của Đức Phật lại được chứng kiến tận mắt, nghe rõ bằng tai một thuyết pháp của Đức Phật!”

    Câu chuyện của anh Hiểu không được đám đông hoan nghênh vì đâu phải ai cũng đã đọc qua sách Phật. Nhưng già Nhân hôm nay ngẫu hứng…

    “Chuyện của anh Hiểu nên hơi khó hiểu! Thôi để tôi kể cho anh chị em nghe chuyện của tôi cho dễ hiểu! Gia đình tôi theo đạo Công giáo từ khi tôi chưa ra đời, nên dĩ nhiên là tôi đi nhà thờ từ nhỏ. Nhưng Chúa ở quá cao trên thánh giá, cha xứ thì mờ ảo vì tôi có vấn đề về mắt từ nhỏ. Nhưng thời xưa đâu có ai quan tâm tới mắt của con nít. Rồi tôi lớn lên với cặp kính trắng thì mặc cảm cũng tràn đầy lòng dạ vì thời tôi người ta cho cận thị là một dị tật! Tôi lớn rồi mê gái nhưng ngại đi nhà thờ vì mặc cảm. Tôi cầu nguyện một mình ở nhà thì Chúa không nghe… Nhưng ngài “có tin có lành” đó đã gởi đến cho tôi câu chuyện chép tay của cô bạn học cho tôi mượn làm tôi khổ hết một đời ngu si là chỉ yêu một câu chuyện ngắn mà phải sống hết đời dài với người mách chuyện. Chuyện vầy,

    Cậu bé Tom mơ được gặp Chúa. Nhưng đầu óc cậu bé mường tượng ra nơi ngài sống, chắc là xa lắm! Thế là một ngày hè, cậu bé chuẩn bị bánh trái, nước uống, trái cây… và bắt đầu cuộc hành diện kiến Chúa.

    Cậu bé đi qua vài khu phố, thấy một bà cụ ngồi trong công viên và đang ngắm nhìn đàn chim bồ câu trên sân cỏ. Tom đến chiếc ghế gần bà cụ, lấy nước ra uống. Nhưng khi thấy bà cụ có vẻ cũng khát, cậu đã mời bà một ly nước, rồi chiếc bánh, đến trái cây cậu mang theo…

    Bà cụ vui mừng nhận lấy và đáp lại bằng những nụ cười rất tươi. Nụ cười của bà cụ rạng rỡ đến nỗi Tom rất muốn được chiêm ngưỡng thêm lần nữa, lần nữa… Vì vậy cậu đã mời bà dùng hết những thức ăn, nước uống cậu đem theo. Bà cụ vẫn chỉ đáp lại Tom bằng nụ cười. Tom vô cùng vui sướng, hai bà cháu ngồi cạnh nhau ăn bánh, uống nước tới chiều.

    Trời bắt đầu tối, Tom phải trở về nhà. Nhưng vừa đi được vài bước cậu quay lại, chạy tới chỗ bà cụ và ôm bà một cái thật chặt. Bà đáp lại cậu bằng một nụ cười rạng rỡ nhất trong ngày.

    Chỉ một lát sau, khi Tom về nhà. Mẹ cậu đã rất ngạc nhiên khi nhìn thấy niềm vui sướng ngập tràn trên khuôn mặt cậu bé. Mẹ Tom hỏi: “Con đã đi chơi đâu mà nhìn con thật hạnh phúc ngày hôm nay?”, Tom đáp, “Con đã được dùng bữa trưa cùng Đức Chúa”. Trước khi mẹ cậu nói lời thêm, Tom nói rằng: “Mẹ biết không, bà ấy là người có nụ cười đẹp nhất mà con từng gặp”.

    Trong khi đó, bà cụ cũng rất vui vẻ trở về nhà. Nhìn thấy khuôn mặt hân hoan của bà cụ, con bà hỏi, “Mẹ, điều gì đã làm mẹ trông thật hạnh phúc ngày hôm nay?” Bà đáp, “Ta đã ăn bánh, uống nước trong công viên với Đức Chúa”. Trước khi cậu con trai hỏi thêm, bà nói tiếp, “Con biết không, Người trẻ hơn những gì ta tưởng!”

    Vậy đó! Chúa hiện diện khắp nơi để chia sẻ hạnh phúc và trao nhau nụ cười. Gia đình tôi theo đạo từ bao giờ thì tôi cũng không rõ. Tôi chỉ biết mình đã đi nhà thờ từ nhỏ, nhưng kỷ niệm với bạn đạo chỉ toàn là những lần bị cha xứ trách phạt bọn tôi quấy phá nhà thờ. Không ngờ niềm tin lại ở công viên với bà cụ và bạn Tom chứ không phải nhà thờ.

    Mỗi ngày các anh chị em chào đón tôi với câu chào buổi sáng, là Chúa đã hiện thân cùng tôi để qua một ngày kiếm được đồng tiền ở Mỹ không dễ chút nào. Tôi mang ơn hết anh chị em làm chung nơi hãng này. Mai đây, người đi kẻ ở vì việc làm. Xin các anh chị em luôn mang theo lòng biết ơn của tôi… Tôi nghĩ, người có một Đức Chúa trong tâm là phước, nhưng người có nhiều Đức Chúa trong đời là phần. Người ta nghĩ tới Đức Chúa là nghĩ tới ban thưởng, trong khi tôi nghĩ tới Đức Chúa là nghĩ tới quở trách, trừng phạt… Tất cả anh chị em nơi đây đều là Chúa trong tôi vì ai cũng giúp tôi trong công việc, muốn tôi giỏi hơn. Câu hỏi, “Ai là anh em tôi?” trong Kinh thánh thì tôi xin chọn anh chị em nơi đây làm tin mừng – Phúc đáp cho Người.

    Có lẽ câu chuyện tào lao thiên đế hôm không việc làm đã trở nên nghiêm túc sau chuyện của anh Nhân. Tôi rất thích nước Mỹ ở điểm không ai có thành kiến với người khác đạo với mình. Với hiện tình nước Mỹ thì người ta hơi ái ngại khi gặp một người Trung đông lên cùng máy bay. Nhưng thay vì theo dõi tin tức về thành phần Hồi giáo cực đoan ra sức khủng bố toàn cầu, thì sao không bỏ thời gian ra đọc kinh Koran, những bài thuyết giảng về đạo Hồi của những giáo sĩ chân chính… Ít nhiều cũng thấy được thành phần Hồi giáo cực đoan chỉ là một thiểu số lợi dụng tín ngưỡng để mưu cầu quyền lực và tài lợi.

    Trở lại với chuyện đạo-đời mà đồng hương – đồng nghiệp của tôi trao đổi với nhau cả buổi. Tôi sẽ nhớ hoài những nụ cười dĩ hòa vi quý của những con người nếu gặp nhau ngày xưa ở quê nhà thì không chừng họ đã đánh nhau; hay ít nhất cũng đã xài cạn kho từ ngữ nguyền rủa nhau… Suy ra, trong một xã hội không cần phân biệt tôn giáo thì tôn giáo là bạn nhiều hơn là thù.

    Nhưng đưa đạo vào đời hay đời sống đạo thì cá nhân tôi lại nhớ chuyện kẻ ăn mày đi Tây Thiên cầu Phật. Thật ra đó là câu chuyện lưu truyền rộng rãi trong dân gian, được cải biên chắc cũng đã nhiều theo từng thời kỳ và từng dân tộc. Nhưng qua chuyện “Phạm Đan hỏi Phật” của Việt ngữ thì tinh thần, cốt truyện vẫn giữ nguyên nội dung: Yêu thương người sẽ được người yêu thương, kính trọng người sẽ được người kính trọng. Cốt lõi của nguyên tác dùng đạo xây đời và dùng đời truyền đạo tới mức bất chấp thời gian vì đúng đắn từ quá khứ tới tương lai. Tôi kể cho bạn bè tôi nghe lại câu chuyện cũ…

    “Một người ăn mày, ngày ngày đi xin ăn. Nhưng anh ta rất muốn có cuộc sống của một người bình thường. Thế là anh ta quyết định mỗi ngày sẽ để dành lại một ít của xin được. Cụ thể là ai cho cơm thì ăn, nhưng ai cho thóc thì để dành. Nhưng tích cóp nhiều năm cũng chẳng có bao nhiêu thóc trong nơi để dành. Anh quyết định tìm hiểu xem chuyện gì đã xảy ra.

    Một đêm, anh rình được con chuột ăn vụng thóc. Anh quát vào mặt con chuột: “Những nhà giàu có không hiếm trong làng, họ có rất nhiều lương thực sao ngươi không ăn vụng? Tại sao lại ăn vụng số thóc ăn mày của ta?”

    Con chuột buồn bã nói: “Số mệnh của anh không có dư, anh có mang bất mãn đi hỏi khắp thiên hạ thì cũng chỉ vậy thôi!”

    Người ăn mày lại hỏi con chuột: “Cớ sao lại như vậy”.

    Con chuột trả lời: “Tôi cũng không biết, anh đi hỏi Phật tổ thì may ra…!”

    Thế là người ăn mày quyết tâm đi Tây Phương gặp Phật tổ để hỏi cho rõ nguyên nhân vì sao mình lại có vận mệnh như vậy?

    Ngay ngày hôm sau người ăn mày xuất phát, vừa đi vừa xin ăn, anh ta đã đi qua rất nhiều địa phương mà trước đó anh chưa hề biết! Đến một ngày, người ăn mày đói khát tưởng chết mới tìm thấy một ngôi nhà nơi hoang vắng khi trời đã tối, anh liền đến gõ cửa. Không ngờ được viên ngoại tiếp đãi anh ân cần, lại cho thêm bao nhiêu là lương khô để đi qua vùng hoang địa… Nhưng dù sao người ăn mày cũng đã nói với viên ngoại về vận số của mình đen đuổi, muốn thay đổi nên đến Tây Thiên hỏi Phật tổ cho rõ ràng. Và viên ngoại cũng đã kể lể với anh về người con gái của ông nay đã 16 tuổi nhưng vẫn câm. Ông thỉnh cầu anh đi Tây Thiên nhân tiện giúp ông hỏi Phật tổ nguyên nhân vì sao?

    Viên ngoại đã từng phát lời thề rằng nếu ai có thể làm cho con gái ông nói được thì ông sẽ gả con gái cho người đó. Người ăn mày chỉ nghĩ dù sao mình cũng đi Tây Thiên, nếu may gặp được Phật tổ thỉ hỏi giúp viên ngoại như giúp một người tốt cũng là chuyện nên làm…

    Người ăn mày đi tiếp qua núi đồi hiểm trở. Anh dừng chân trước ngôi miếu cheo leo để vào xin nước uống. Có lão hòa thượng chống cây tích trượng, người rất già nhưng còn tinh anh. Lão hòa thượng lấy nước cho người ăn mày uống, bảo anh ta nghỉ ngơi một lúc, rồi hỏi anh ta sẽ đi đâu?

    Người ăn mày nói ra nơi mình muốn đến, lão hòa thượng nhờ vả: “Ta muốn nhờ anh đến Tây Thiên hỏi Phật tổ giúp ta, ta tu hành đã năm trăm năm rồi, theo lý đã thăng thiên…”

    Người ăn mày lại nhận giúp lão hòa thượng.

    Anh tiếp tục lên đường, đi qua rất nhiều đồng bằng, sông nước. Một hôm đến con sông lớn, không thấy một bóng thuyền, người ăn mày không biết làm sao qua sông được? Anh ta than khóc cho phận mình: “Chẳng lẽ vận mạng của ta thật phải khổ như vậy sao?”

    Đột nhiên giữa sông có một con rùa già, to lớn, trồi lên mặt nước. Lão rùa hỏi: “Vì sao lại ngồi ở đây than khóc?”

    Người ăn mày đem sự tình nói với lão rùa, nghe xong lão rùa nói: “Ta đã tu hành một ngàn năm rồi, nhưng vẫn chưa thành rồng để bay đi. Ta vẫn mãi chỉ là một con rùa già. Nếu anh đi Tây Thiên có thể giúp ta hỏi Phật tổ, ta sẽ mang anh qua sông”.

    Người ăn mày rất vui mừng liền đồng ý sẽ hỏi giúp lão rùa.

    Người ăn mày qua sông, lại đi qua không biết bao nhiêu ngày, nhưng vẫn không gặp được Phật tổ. Anh ta hoang mang không biết Phật tổ thực ra ở nơi đâu? Tây Thiên lẽ ra phải sớm đến rồi chứ! Người ăn mày càng nghĩ càng thương tâm, rồi ngủ thiếp đi. Đột nhiên Phật tổ xuất hiện, hỏi: “Ngươi từ nơi rất xa đến đây nhất định là có chuyện…”

    Người ăn mày nói: “Thưa vâng. Con có mấy vấn đề muốn hỏi ngài, hy vọng Phật tổ có thể giải thích cho con được rõ ràng”.

    Phật tổ nói được, nhưng giới hạn ba vấn đề thôi.

    Người ăn mày đồng ý! Rồi nghĩ thầm mình phải hỏi những vấn đề nào đây? Vấn đề của mình không quan trọng vì ăn mày từ nhờ thì ăn mày tới chết cũng không khác. Nhưng ông rùa tu hành đã ngàn năm gian khổ; Lão hòa thượng tu hành năm trăm năm vất vả biết là bao; còn con gái của viên ngoại thì thật tội nghiệp…

    Thế là người ăn mày đã quên mình. Nên Phật tổ cũng chỉ cho anh ta biết ba điều anh quan tâm: “Bởi vì lão rùa không nỡ bỏ cái mai rùa trên lưng nên không thể biến thành rồng được. Lão hòa thượng không bỏ được cây tích trượng chỉ cần gõ lên sa mạc cũng thành dòng suối mát trong nên không thăng thiên được. Còn cô gái câm chỉ cần nhìn thấy người trong lòng của mình đến thì sẽ nói chuyện…”

    Phật nói rồi biến mất.

    Người ăn mày trở về, thấy bớt nặng nề với nghiệp ăn xin. Đến bờ sông, lão rùa đã nghênh đón câu trả lời của Phật. Lão liền cởi xuống cái mai trên lưng, đưa cho người ăn mày rồi nói: “Ở bên trong có hai mươi bốn viên dạ minh châu, là bảo vật vô giá, bây giờ ta không còn cần dùng đến nữa, ta tặng nó cho anh”. Nói xong lão rùa biến thành rồng bay đi.

    Người ăn mày cầm hai mươi bốn viên dạ minh châu về đến núi. Lão hòa thượng nghe xong vui mừng, trao tích trượng cho anh rồi cỡi mây bay đi.

    Anh về tới cổng của nhà viên ngoại, cô gái câm lớn tiếng hô hoán: “Người đi hỏi Phật tổ đã trở về rồi!”

    Nhân sinh làm ra đạo để đạo làm ra nhân sinh khác với muôn loài. Yêu thương người sẽ được người yêu thương, kính trọng người sẽ được người kính trọng. Có trả giá mới có hồi báo, không có hồi báo trước khi trả giá, là nhân sinh.

    Người ta sống không hơn thua nhau gì hơn một niềm tin. Có tin có lành. Chỉ người thấp kém, nông cạn mới đả kích, báng bổ niềm tin của người khác…

    Phan


    Nguồn:http://thoibao.com

              

Hình đại diện
Bạch Vân
Bài viết: 3095
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 19:19
Gender:

Re: Phan

Bài viết bởi Bạch Vân » Chủ nhật 13/08/17 19:56

  •           

    Phật phật ma ma…





    Vợ chồng anh Hiếu được anh chị em ở địa phương gọi thân mật là “đôi bạn điểm mười”. Anh chị không phản đối vì anh gầy chính xác như con số một mà chị thì tròn như con số không. Nhưng anh chị thuộc loại người chấp nhận số phận và vui tính, vui đến bạn bè được vui lây là sự xuất hiện của anh chị ở bất cứ nhà ai cũng quan trọng như nhau, vì chị làm thức ăn ngon. Lúc nào chị cũng cho anh chị em được thưởng thức lại những món gợi nhớ. Nhiều khi, nhiều người, chỉ mới nhìn thôi đã nín thinh luôn cả buổi vì hoài niệm chiếm cứ hết tâm hồn. Như người chị khác từng nói khi ăn bò pía của chị Hiếu làm, “Trời ơi! Từ hồi học xong trung học tới nay có cháu ngoại rồi, tôi mới được ăn lại món bò pía…” Là vậy đó, nghe “bà ngoại” nói bằng ngữ âm xúc động đến mọi người không dám nói đùa một câu cho vui. Rồi đến hôm chị Hiếu trộn một khay gỏi đu đủ bào với khô bò ướt, ít lá quế thơm sau vườn nhà và nước tương ớt chua chua, cay cay… nồng lên mũi, làm mọi người đều bồi hồi khi thưởng thức lại món ăn khoái khẩu của thời còn đi học ở quê nhà với biết bao kỷ niệm về trường lớp, thầy bạn…

    Ngoài tài làm những món ăn gọn nhẹ nhưng mang nhiều hoài niệm, gợi nhớ kỷ niệm chung cho mọi người của chị Zero thì anh chồng số Dzách của chị lại độc đáo món khác! Anh bao giờ cũng cất công sưu tầm, tìm đọc đủ thứ để giải đáp thắc mắc cho anh chị em, bạn hữu…

    Lần trước gặp nhau, anh ta thán anh em cứ ép cạn hết ly này tới chai kia mà không ai nỡ gắp cho anh một miếng, không hoài niệm thì cũng cần đưa cay chứ!

    Cái ông anh Hiếu này rất khó đoán là anh ta thán thật, hay chỉ là thấy mọi người khen vợ mình làm gỏi khô bò ngon nên anh khen theo để lấy điểm hay khẳng định tài nghệ của vợ nhà với thiên hạ như thế thì thật là cao minh! Có thể nói những gì anh Hiếu nói ra, ai muốn hiểu sao hiểu. Nên cánh đàn ông nói về anh thường là: Ông Hiếu phật phật ma ma…

    Hôm đó. Anh biết là mọi người nói đùa nhưng nghĩ ra cũng đúng khi họ nói, “Cho anh ăn uổng. Ăn sáu bảy chục năm rồi cũng ốm tong như cây tăm nhang.” Tôi thì khoái châm chọc anh để có chuyện vui vì anh là người cũng hiếm gặp nên quý, anh không biết giận! Lần trước tôi bảo anh, “anh cứ phật phật ma ma thì ai mà biết anh ăn chay hay ăn mặn để gắp cho anh. Thôi uống chay đi, rồi về nhà ăn trứng! Bảo trứng là chay hay mặn thì tùy anh!”

    Chuyện cuối tuần ấy mà, đâu biết anh về tìm tòi nên lần gặp này anh giải thích cho tôi câu cửa miệng người ta thường nói nhưng mấy ai hiểu là câu, “phật phật ma ma”. Có lẽ tôi cũng trong nhóm người bảo giải thích thì không biết, nhưng nghe thì hiểu ngay về một người cứ… phật phật ma ma như anh Hiếu.

    Thôi thì cứ nghe anh bạn tôi kể chuyện, “Phật và ma”. Tôi thì nghĩ ngay đến câu, “phật phật ma ma” của lần gặp trước. Nhưng qua chuyện anh số Dzách kể thì mỗi người lại có suy nghĩ riêng chứ không chung nhau ý nghĩ một cách chung chung nữa…

    Anh kể chuyện Phật và ma như sau,

    Có người họa sĩ rất nổi tiếng, ông ta muốn vẽ Phật và ma, nhưng không tìm được người mẫu thích hợp. Kỳ thực là vì đầu óc ông họa sĩ không hình dung ra được hình dáng của Phật!

    Nhưng trong một lần tình cờ, ông vô tình nhìn thấy một hòa thượng. Khí chất vị hòa thượng khác hết mọi người nên người họa sĩ bị thôi miên bởi sự thanh thoát. Vậy là ông liền trò chuyện với vị hòa thượng đó, hứa cho ông ta một số tiền để chịu làm người mẫu cho họa sĩ vẽ tranh Phật.

    Khi tác phẩm hoàn thành đã không ngớt lời khen của muôn người. Đó là bức tranh ai nhìn thấy cũng tin là Phật. Bởi khí chất thanh thoát, an lành của vị hòa thượng lại được nhân cách lên thêm qua nét cọ điêu luyện của họa sĩ; làm xúc động bất kỳ ai. Nên mọi người không còn gọi ông là họa sĩ nữa, mà gọi ông là “họa Thánh”.

    Bẵng đi một thời gian, họa thánh bắt tay vào việc vẽ ma, nhưng điều này lại khó không ngờ hơn cả vẽ Phật vì ít nhiều họa sĩ cũng đã xem qua những tranh Phật của người đi trước. Còn ma thì chẳng ai biết hình tượng ra sao, ở đâu? Nên chỉ có chuyện kể…

    Họa thánh đi tìm kiếm nhiều nơi. Gặp nhiều người có vẻ ngoài hung dữ, nhưng không ai vừa ý họa thánh vì ma phải hơn hung dữ một hay vài bậc mới là ma chứ. Ông nghĩ thế!

    Cuối cùng, ông tìm được trong nhà tù một tù nhân rất… ma. Họa thánh vô cùng mừng rỡ, nhưng khi ông đối diện phạm nhân đó, người này đột nhiên khóc lóc đau khổ trước mặt ông.

    Họa thánh lấy làm kinh ngạc nên thăm hỏi cho rõ ngọn ngành.

    Người phạm nhân đó nói: “Tại sao lần trước khi người mà ông tìm để vẽ Phật là tôi, bây giờ khi vẽ ma quỷ, người ông tìm đến vẫn là tôi?”

    Đến đấy người họa sĩ mới giật mình, ông nhìn kỹ lại người phạm nhân đó, rồi nói: “Sao lại có thể chứ? Người mà tôi tìm để vẽ Phật ấy khí chất phi phàm, còn ông xem ra chính là một hình tượng ma quỷ, sao lại có thể là cùng một người được? Điều này thật kỳ lạ, quả thật khiến người ta không thể nào hiểu nổi!”

    Người tù đau khổ nói: “Chính là ông đã khiến tôi từ Phật biến thành ma quỷ”.

    Họa thánh nói: “Sao ông lại nói như vậy? Trước sau, tôi đâu có làm gì đối với ông đâu!”

    Người tù nói: “Kể từ sau khi tôi nhận được số tiền quá lớn của ông cho, tôi biết làm gì khác là ăn chơi để tìm thú vui, mặc sức tiêu xài. Nhưng đến khi tiền hết thì tôi đã quen với cuộc sống đó rồi, dục vọng đã khởi phát mà không thể thu hồi lại được. Thế là tôi phạm tội, thậm chí giết người để có được tiền ăn chơi, trác táng…, chuyện xấu gì tôi cũng có thể làm, kết quả là tôi đã thành ra hôm nay đây”.

    Họa thánh nghe hết tâm sự của người tù. Ông ngộ ra bản tính con người trước dục vọng có thể biến đổi nhanh hơn cả thời tiết. Không ngờ con người yếu nhược đến vậy! Thế là ông buông cọ vẽ, từ đó về sau không còn vẽ bức tranh nào nữa. Nên trong dân gian đâu đâu cũng thấy treo ảnh Phật, thờ Phật; chứ không đâu có ảnh ma quỷ để treo… mà thờ phượng.

    Ngay cái kết của người kể đã thấy người kể rất phật phật ma ma, ai muốn hiểu sao hiểu! Nhưng ai chối cãi được khi con người rơi vào dục vọng thì lạc mất mình trước, sau đó là hệ lụy. Sa ngã dễ bao nhiêu thì khi muốn thoát ra khó khăn sẽ hơn nhiều. Điển tích thì nhiều nhưng chung quy bản tính con người khó thoát vòng nghiệp chướng của dục vọng. Dù ai cũng biết điều đáng sợ nhất trên cõi đời là dục vọng, vì dục vọng làm mê đắm con người hơn hết những những triết lý, đạo lý mà người ta nghĩ ra được. Ai chả biết tiền tài tựa như gông xiềng, lòng tham là mộ phần. Tranh danh đoạt lợi cuối cùng chỉ phiền não, mệt thân. Nhưng buông bỏ tham dục để trở về bản chất thì con người vô thường; khi hiểu được niềm vui vô tận của sinh mệnh là tự tại tiêu dao thì người ta chỉ còn linh hồn cô lẻ vì thể xác đã tiêu tan…

    Dục vọng là thứ đáng sợ nhất trên cõi đời thì ai cũng biết. Nhưng để thắng được lòng tham là căn bản nhất của dục vọng thì con người nhỏ bé và yếu đuối trước cám dỗ đến dường nào. Một người bạn khác kể chuyện “bạn-vàng” tiếp ý anh Hiếu khi bỗng dưng anh chị em quay sang những chuyện triết lý nhân gian…

    Anh nọ kể,

    Một vị tăng nhân hốt hoảng từ trong rừng chạy ra, vừa khéo lại gặp được hai người quen đang trên đường. Họ hỏi vị tăng nhân: “Chuyện gì mà ông hốt hoảng quá vậy?”

    Vị tăng nhân nói: “Thật là kinh khủng, tôi đi đào củ sâm nhưng lại đào phải cả đống vàng ở trong rừng!”

    Hai người bạn nọ không nhịn được tò mò thì ít mà lòng tham trỗi lên thì nhiều nên họ nói với nhau: “Thật đúng là tên đại ngốc! Đào được vàng, việc tốt như thế mà ông ấy lại cho là kinh khủng, thật là không thể hiểu nổi!”

    Thế là họ hỏi vị tăng nhân kia, “Ông đào được vàng ở đâu? Chỉ cho chúng tôi xem với!”

    Vị tăng nhân nói: “Thứ xấu xa như thế, các ông không sợ sao? Nó sẽ giết người hàng loạt đấy!”

    Hai người bạn đã động lòng tham nên nói: “Chúng tôi đây không sợ, ông cứ chỉ chỗ cho chúng tôi xem sao?”

    Vị tăng nhân nói: “Dưới gốc cây ở bìa rừng phía tây”.

    Hai người bạn liền lập tức tìm đến chỗ vị tăng nhân chỉ, quả nhiên hoa mắt với vàng! Người này liền nói với người kia,“Ngài tăng nhân đó đúng là ngốc thật, thứ vàng bạc mà mọi người đều khao khát đã ở trong mắt, trong tầm tay ông ta. Thế mà lại cho chúng là quái vật ăn thịt người.” Người kia cũng gật đầu đồng tình.

    Thế là họ bàn với nhau làm thế nào để chuyển số vàng về nhà. Một người nói: “Ban ngày ban mặt mà đem nó về thật không an toàn chút nào. Hay là đêm đến thì mình mới vận chuyển, vậy sẽ chắc ăn hơn. Tôi ở lại đây canh chừng, và đào hết lên để thôi lại phí của trời. Ông hãy về mang chút cơm rượu, rồi trở lại. Chúng ta ăn cơm rồi đợi đến trời tối mới chuyển số vàng này về nhà”.

    Người kia liền làm theo lời bạn nói. Trong khi người ở lại đào bới cả khu rừng nhưng đầu óc chỉ nghĩ: “Nếu như số vàng này đều thuộc về sở hữu của riêng ta thì hay biết mấy!”

    Thế là khi người bạn đem cơm rượu đến khu rừng, người bạn đợi liền từ phía sau đánh gậy gỗ mạnh vào đầu bạn, khiến ông ta chết ngay tại chỗ. Chút ân hận lói lòng nên ông nói cho mình nguôi ngoai: “Bằng hữu ơi! Chính là số vàng này buộc tôi phải làm như vậy!”

    Sau đó ông ta vớ lấy thức ăn mà người bạn mang đến, ăn ngấu nghiến vì đói. Nhưng chưa no đã cảm thấy khó chịu trong bụng như lửa đốt. Khi đó, ông ta đã biết muộn rồi là mình bị trúng độc trong cơm.

    Người chết vì tiền tài, chim chết vì miếng ăn. Đều là họa của dục vọng mà lòng tham mới là chánh. Nếu không thì tăng nhân đâu nói thứ vàng bạc đó là thứ giết người hàng loạt…

    Có thế chứ! Người tử tế bao giờ cũng kết thúc câu chuyện mạch lạc chứ không phật phật ma ma… để ai muốn hiểu sao hiểu!

    Nhưng ra về đường xa, đôi tay tịnh trên tay lái. Tôi thử nhìn lại quanh mình thì dường như thời buổi bắt mọi người cứ phải thật thật giả giả; phật phật ma ma… để vẫn truyền đạt được ý mình, nhưng khi mất lòng nhau quá thì vẫn còn lối thoát! Nghĩa là người ta sợ mất quan hệ hơn mất chính kiến. Một thời đại có đáng để xét lại những quan hệ khi cán cân quan hệ và chính kiến đã nghiêng lệch vì lòng tham lớn nhỏ trong từng người…

    Phan



    Nguồn:http://thoibao.com

              

Hình đại diện
Bạch Vân
Bài viết: 3095
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 19:19
Gender:

Re: Phan

Bài viết bởi Bạch Vân » Thứ tư 13/12/17 09:59

  •           



    Còn không em những hàng me…




    1.
    Tôi nhớ xa xưa lắm, năm tôi mười lăm, mười sáu tuổi. Một trưa hè tôi đạp xe về vùng quê thăm người bạn học. Tôi với nó đi tắm sông. Chỉ băng qua cánh đồng cỏ tranh không lớn đã tới sông rộng. Nhưng tôi thấy từng đàn tép bạc lội từng đàn, từng đàn dọc theo những bụi dừa nước ở ven sông. Tôi bảo cô em gái của bạn đang ngồi chơi trên bờ sông xem chúng tôi bơi đua… “Em về nhà lấy cái lưới ra đây cho anh. Tụi anh lưới tép bạc về ăn. Tép nhiều quá!”

    Cô em đem ra sông cho chúng cái mùng cá nhân của lính ngày xưa vì cái lưới rách rồi. “Ông nội chưa có rảnh để vá lưới…” Vậy mà chúng tôi cũng lưới được cả rổ tép bạc. Tưởng cô em sợ nắng bỏ về. Đâu ngờ chúng tôi về lại nhà, cô em đã bắc cái ghế đẩu cao để thắp nhang trên trang thờ. Em đã hái được một rổ lớn đọt lá me non của cây me thấp nhất ngoài vườn… Năm đó cô em mới mười bốn mà giỏi ghê. Loáng cái đã chia rổ tép ra làm hai, một nửa nấu canh chua lá me non; một nửa tép rang với mỡ, nước mắm, muối, tiêu, chút đường… mà ngon đáo để.

    Với tôi đúng là được ăn một lần để nhớ một đời, vì đến tận bây giờ tôi vẫn không quên được vị chua rất thanh của lá me non, thoáng chút vị chát của nhựa me trong lá non nhưng vị chát ấy làm ngây, the the đầu lưỡi nên muốn ăn hoài. Nước canh ngọt tép tươi, trong veo, mà lại thơm lừng mùi lá me. Chấm chút nước mắm mặn có giằm trái ớt cay cay thì ăn quên thôi…

    Tôi cũng nhớ là lâu lắm rồi! Một hôm đi làm về, tôi thấy trên bàn bếp nào là cá câu chứ không phải cá mua chợ. Rồi thì bạc hà, đậu bắp, cà chua, rau ngò om xanh ơi là xanh, mùi ngò lan tỏa ra cả nhà thơm thoảng; trái thơm thì vàng tươi, ai lể mắt thơm khéo giống bà ngoại tụi nhỏ quá vậy ta? Không được trả lời mà lại bị giục đi tắm đi, rồi ra ăn canh chua cho nóng.

    Nhưng khi thấy hiền nội nêm vào nồi canh chua một loại bột gì đó màu nâu nâu. Tôi cầm gói bột nêm ấy lên xem, hoá ra là bột me, có xuất xứ từ Thái Lan. Tôi hỏi: “Sao em không mua me vắt như trước đây? Ở Mỹ không có me trái thì chịu ăn me vắt thôi, nhưng dù gì nó cũng là me. Còn me bột này là me hay là hóa chất tổng hợp? Nghi ngại quá em à!”

    Câu trả lời như câu trả lời chung của mọi người xa xứ thì biết làm sao! “Me vắt dạo trước còn mua được vắt me màu cánh gián. Mở ra có mùi me dốt nên còn dám mua, dám ăn. Bây giờ gói me vắt ngoài chợ đen xì, không biết họ đóng gói từ bao giờ, và có phải là me không nữa, chẳng có mùi lai gì hết, làm sao dám mua?”

    Rồi thì cũng ăn chứ biết làm sao khi gia vị để chế biến thực phẩm châu Á nói chung, Việt nam nói riêng mấy chục năm trước còn khan hiếm ở Mỹ. Nhưng khi thấy một gói bột me thời hiện đại trên bàn bếp gia đình thì tâm lý mới đến mức ái ngại với hoá chất trong thực phẩm thôi. Không sợ quá như khi đi chợ, thấy hàng ngàn gói bột me trong cái thùng các tông to bằng nửa cái tủ lạnh với giá rẻ không ngờ. Một đồng ba gói, không biết có đủ tiền bao bì cho nhà sản xuất không nữa vì họ làm bao bì rất đẹp, tốt, rất vệ sinh… thì còn gì cho bên trong mới là cái cần dùng!

    Sống với hoá chất mỗi ngày thêm một món mới trên bàn ăn rồi dần quen như quen dần với sợ hãi, nhưng vẫn không hết sợ. Như hôm đi chợ hơn trăm đồng, tôi được người đứng quầy tính triền tặng không cho chai nước chấm xí muội. Nhìn thật đáng ngại vì còn nhớ hồi còn bên nhà là phải ra tiệm thuốc bắc mua xí muội về nhà ngâm, rồi tự chế biến. Cuối cùng là món hột vịt lộn chiên giòn chấm nước xốt xí muội thì xốt xí muộn mắc tiền hơn hột vịt lộn tới gấp hai ba lần.

    Bây giờ người ta sản xuất số lượng lớn trong nước để xuất cảng sang đây. Chưa biết chế biến bằng nguyên liệu gì thì cũng đã ngại với hoá chất bảo quản cho đừng bị mốc hay lên mem hư hỏng… Tôi cảm ơn nhưng từ chối không nhận. Bị người đợi tính tiền sau tôi mắng cho, “Chai nước chấm xí muội bốn, năm đồng bạc. Không ăn thì cũng lấy về cho người khác… Đúng là đàn ông đi chợ.”

    Đàn ông đi đâu… thì cũng bị chửi thôi!

    Đến hôm tôi đi chơi xa, ngủ nhà bạn. Bước vào cái nhà tắm, tôi có cảm tưởng về một gian hàng, một cái sạp bán mỹ phẩm ở chợ Tân Định, hay dọc đường Nguyễn Thông. Tôi nghĩ ngợi, vợ chồng bạn đương nhiên ở phòng lớn dưới nhà. Họ có hai con trai, thì một cháu đã đi học xa, chỉ một cháu sắp đi đại học. Bọn trẻ ngủ trên lầu. Vậy là chỉ một cậu thanh niên thôi mà ngần này mỹ phẩm. Mỗi ngày nó tự đầu độc, tàn phá chính nó với biết bao nhiêu là hoá chất!

    Sống trong thời đại hoá chất này, dường như chúng ăn bất cứ thứ gì cho vào miệng cũng có hoá chất; đến trái táo hái ngoài vườn, ăn tươi nuốt sống trái táo chứ có chế biến gì đâu, gia vị gì đâu, thế mà hoá chất cũng có mặt trong phân bón, thuốc trừ sâu cho cây táo…

    Nhớ lần ấy, tôi với vợ chồng người bạn trò chuyện khá nhiều về hoá chất trong thực phẩm chế biến, trong gia vị nấu ăn mà chúng ta xài hằng ngày. Nhưng cũng chỉ là chuyện trà dư tửu hậu thôi chứ lực bất tòng tâm. Lần ấy vợ chồng bạn đãi tôi món canh chua ếch, cô vợ lôi me dốt trong tủ đá ra để nấu. Cô nói, em đem từ Việt nam về Mỹ, và để dành trong tủ đá để ăn dần. Chứ ăn me bột Thái Lan thấy sợ sợ vì không biết họ làm bằng cái gì mà chợ nào cũng đổ đống, bán với giá rẻ bèo càng khiến nghi ngại hơn…

    2.
    Bao nhiêu năm rồi tôi mới được cầm lại trên tay mình trái me dốt còn vỏ. Tuy nó đông đá như kỷ niệm đóng băng về thời đi học ở Sài gòn. Ngày nào tôi chả bắn me trong Sở thú bằng cái ná cao su, mấy cô bạn nhỏ bên trường Trưng Vương thì lúc nào chả có sẵn muối ớt trong cặp táp. Đúng là từ bé đã thích chua cay…

    Cái món ấy nó chỉ mặn khi nhớ về những hàng me ở Sài gòn vào một sáng mùa đông viễn xứ như sáng nay. Người Hà nội thường nhiều kỷ niệm với cây hoa sữa, cây cơm nguội vàng… nên mới có lời nhạc, “Hà nội mùa này vắng những cơn mưa/ cái rét đầu đông khăn em bay hiu hiu gió lạnh/ hoa sữa thôi rơi em bên tôi một chiều tan lớp/ đường Cổ Ngư xưa chầm chậm bước ta về…” Hay trong bài “nhớ mùa thu Hà nội” thì lời nhạc cũng thiết tha êm đềm không kém, “Hà nội mùa thu/ cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ/ nằm kề bên nhau/ phố xưa nhà cổ, mái ngói thâm nâu…”

    Tôi chỉ là người khách vãng lai trên quê hương mình khi đi ngang qua Hà nội. Những lúc dừng chân ngắm phố phường cũng xúc động nhiều khi hình dung ra cha mẹ mình với một thời tuổi trẻ ở đây. Họ cũng đi học chung lớp chung trường thì mới quen biết nhau, rồi tình yêu đến khi cây bàng lá đỏ mà thành vợ chồng để bồng bế con thơ bỏ xứ đi nam. Biết bao nhiêu thổn thức trong lòng cha mẹ khi nhớ về Hà nội với cái rét đầu đông, hoa sữa thôi rơi, ta đi bên nhau một chiều tan lớp…

    Như tôi giờ đây đang nhớ quá đi thôi về những hàng me ở Sài gòn với cái rét đầu đông len lỏi vào tuổi đời đã mốc meo một xó xa quê. “Có từ bao giờ hàng me xanh ngát/ mà nay đứng đó cho em làm thơ/ con đường ta qua đến nay bao tuổi/ em qua trăm buổi em lại nghìn lần/ mà sao bối rối khi cầm tay nhau…” Cái gì cầm lên được đã khó, bỏ xuống càng khó hơn, nhất là đã cầm được một bàn tay bối rối mà vụt mất thì tiếc trọn đời này.

    Tôi không phải người gốc gác ở Sài gòn vì cha mẹ tôi là người di cư. Nhưng tôi sinh đẻ ở Sài gòn, (cũng như những người bạn trẻ Việt nam sinh đẻ ở Mỹ. Khi nhỏ thì họ bảo họ là người Mỹ; lúc trưởng thành thì họ bảo họ là người Mỹ gốc Việt; về già họ tự nhận họ là người Việt. Đó là tôi suy nghĩ riêng về cô cháu gái của tôi, sinh năm 1976 ở Mỹ. Cô dứt khoát cô là người Mỹ cho đến sau đại học, có bạn trai, tôi mới nghe cô cháu nói câu: bạn trai của cháu là người Mỹ gốc Đức như cháu là người Mỹ gốc Việt vậy! Rồi bây giờ đã ngoài bốn mươi mới mày mò học tiếng Việt… để cháu dạy cho con của cháu… vì mình là người Việt mà chú!)

    Như tôi cũng thường nghĩ từ bé, tôi là người Bắc hay người Nam với suốt thời còn bé tôi hầu như không ăn cơm nhà vì không thích khẩu vị mấy món bắc của bà vú nấu cơm cũng là người Bắc. Bà nấu canh chua mẻ là tôi biến sang nhà hàng xóm ăn ké canh chua me. Nên tôi hiểu suy tư của trẻ Việt sinh ở Mỹ qua chính suy tư không biết mình là người Bắc hay người Nam của chính tôi. Chỉ khi qua Mỹ tôi mới bớt suy tư với ý nghĩ mới: Luôn nhớ mình là người Việt là được rồi!

    Nhưng nỗi nhớ Sài gòn lại bằng cảm thức của một người được sinh ra, sống ở thành phố đó suốt thời tuổi trẻ. Nên Sài gòn trong máu, Sài gòn trong tim, chỉ riêng những hàng me thôi đã bất tử rồi! Dù me nghe còn tầm thường hơn cóc, ổi. Bởi tuổi nhỏ không tiền mua cóc, ổi để ăn thì mới bắn me bằng ná cao su. Me vậy đó, me cao đến chói loà những tia nắng khắt khe xuyên qua lá cành để thử thách người bạn nhỏ săn me, me cũng biết đau khi trúng hòn sỏi nhỏ, nhưng me rụng nhẹ hều trên cỏ thảo cầm viên cho tuổi thần tiên vui. Me không lộng lẫy cao sang như xoài hương, măng cụt… Nhưng chua, cay với me một đoạn đời mới thấm thía muối mặn niềm thương nỗi nhớ về sau. Như bạn nhỏ tên Lan, tên Huệ lại ít nhớ hơn con Síu chị vì có Síu em nữa mới mỗi người một vẻ làm ta nhớ hoài, rồi mới nghĩ ra: tên đẹp đâu có gì mắc mớ tới người đẹp. Cây tên đẹp như cây tùng, cây bách, cây thông làm sao đẹp bằng cây me ở Sài gòn? Tùng, Bách như hai ông già, thông ốm nhách như cây đũa. Trong khi me đẹp tự nhiên với thân đều mạnh mẽ, không cao gầy như cây dầu – thả cánh dù xoay tít chóng mặt nhìn theo, không thì cũng vấp ngã vì tranh nhau chộp từ trên không những trái dầu xoay rụng khi trời gió… Me không lùn tịt như cây bần, cây mắm nhà quê, vỏ cây me cằn cỗi gió mưa như hiệp khách giang hồ, rêu xanh mởn phía cây không có nắng. Mặt giáp đời tàn tật vết đinh do người ta đóng những quảng cáo vặt thiếu lương tâm với cây mà me cũng không giận hờn gì. Tàn cây me không dầy như tàn cây măng cụt, lại không lưa thưa như cây buồn nhất trên đời là cây sầu riêng. Me đẹp tự nhiên hơn khối loài cây, lại trồng nhiều ở những vỉa hè Sài gòn, thấp thoáng những ngôi biệt thự xây kiểu Pháp ẩn hiện với những hàng me, làm cho Sài gòn đẹp mà ít có ai kể công những hàng me, me cũng không buồn. Me chỉ đứng đó cho em làm thơ hết đời này qua đời khác. Đâu đó có lời nhạc “chia tay trong đêm mùa hè/ gió nói gì với hàng me…” Cánh văn nghệ sĩ không coi trọng những hàng me ở Sài gòn là một đáng tiếc dữ lắm! Cũng có câu nghe được được một chút, “con đường có lá me bay/ chiều chiều ta lại cầm tay nhau về…”

    Ôi, những hàng me ở khu quận ba, quận nhất, khu trường Gia Long còn không em? Dốc Cường Để me già nên me điên. Người nói câu ấy giờ nơi đâu, nhưng chắc chắn người nghe nhớ lắm; nhớ mấy bác me già luôn đồng lõa với gió và con trai sau mưa. Cứ đợi đúng lúc người ta đi qua thì rớt mấy hạt cho ướt áo dài chơi, cho con gái nhăn nhó chơi, cho con trai thắc mắc chơi với mấy giọt mưa rơi không chỉ điểm mà điểm chỉ không thể không thắc mắc! Ôi những hàng me bầu bạn với tuổi học trò, người bán hàng rong, khung cửa sổ nhà ai quên khép làm nhớ hoài những chiếc lá li ti trên tóc người ngồi đánh đàn thùng tới ngẩn ngơ lão me già, thằng canh me nhỏ. Rồi tuổi nào ngồi trên yên xe, dựa gốc cây me mà nghe tiếng dương cầm từ vuông cửa nhớ vọng xuống đời dài chi lê thê… khi vuông cửa còn đó, tiếng đàn còn đâu! Để một mình qua phố hay cũng là đi lại dưới những hàng me, chợt bâng khuâng mùa về khi những hàng me ở đường Nguyễn Du, Hồng Thập Tự ngả màu thay lá. Tất bật vui cho hết mái đầu xanh như những tàn me khoác lá mới để quên đi những kỷ niệm buồn như cây me ngủ chiều, cánh chim trốn vào đêm, vạt nắng cuối ngày không biết ngày mai có còn gặp lại? Còn không em những hàng me nơi chúng ta thường hẹn. Hay chỉ còn trong ký ức mùa đông về những hàng me ở Sài gòn; chỉ còn huyễn hoặc trong tim mình…

    Phan

    Nguồn:http://thoibao.com


              

Hình đại diện
Bạch Vân
Bài viết: 3095
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 19:19
Gender:

Re: Phan

Bài viết bởi Bạch Vân » Thứ ba 14/08/18 19:53

  •           


    Từ tâm…




    Đã bao đời văn minh nhân loại nói đến con tim như khối óc thứ hai của con người, nhưng để chứng minh con tim có lý trí riêng của nó thì con người không nghĩ ra được thước đo như chỉ số IQ để tính sự thông minh của lý trí, không ai chứng minh được hành vi, hành động nào đó của con người hoàn toàn được điều khiển bởi con tim. Người ta chỉ cảm nhận được việc làm không do lý trí điều khiển thì nói là từ tâm, là nói tắt về lòng nhân từ, đức từ bi từ trong tâm (tim) phát ra. Như một sáng tôi thức dậy sớm theo thói quen, ngồi cà phê một mình ngoài patio nhà bạn khi trời còn chưa tỏ mặt người. Trời rạng dần cây lá ngoài sân sau nhà thì góc trên của patio cũng lộ ra cái tổ chim. Trời sáng ra mới thấy rõ con chim non đậu bất động trên thành tổ. Bấy giờ anh bạn chủ nhà mới bưng ly cà phê ra patio ngồi với tôi. Tôi nói với anh ấy, “Tôi không tin được là con chim non đậu yên bất động đã hơn tiếng đồng hồ… không một tiếng kêu.”

    Anh bạn tôi trả lời, “Chắc nó chết quá! Trong tổ có ba con chim con. Hôm qua bị chim cú mèo tấn công. Ba con bay ra thì hai con bay được. Con này còn non quá nên rớt xuống đất. Cũng may cho nó là tôi ra kịp lúc chứ không thì cú mèo đã ăn thịt nó. Con cú mèo thấy người thì sợ nên bay đi… Tôi bỏ nó lại tổ để chờ chim mẹ. Tôi có thấy con chim mẹ đảo về tổ cũ như tìm kiếm nó, nhưng giống chim én này thoáng thấy bóng người là bay mất. Bây giờ con chim con đã đói khát tới không cất nổi tiếng kêu, nên chim mẹ không về tìm nữa…”

    Tôi đã hiểu vì sao con chim non không ở trong lòng tổ cho an toàn, ấm áp mà nó đậu cheo leo trên thành tổ hiểm nguy với cú mèo, sức gió. Thì ra là bản năng sinh tồn, nó đậu như thế thì mẹ nó mới thấy được nó để cứu nó khi nó đã không cất nổi tiếng kêu…

    Nhưng lọn gió vô tình như tôi tiên đoán đã ném nó xuống đất lần nữa. Anh bạn tôi đã mất hết bản tính thường ngày của anh là một người tính toán bất tận, lo việc làm ăn không mệt mỏi, chăm sóc nhà cửa, nuôi dạy con cái… Con người anh của đời thường biến mất theo lọn gió vô tình; rất chính xác là con người lý trí của anh đã biến mất, anh hành động theo chỉ bảo của con tim. Anh nhẹ nhàng tóm con chim non vào lòng bàn tay anh. Con chim bé bỏng, yếu ớt vì đói khát đến động lòng một ông Trùm sò! Anh nhúng tay vào vũng nước mưa đọng trên bàn ăn ngoài trời, nhỏ cho con chim non vài giọt nước. Nó đã khát tới không khép mỏ lại được. Tôi thấy nó mười phần chết đủ mười. Nhưng lòng từ bi bất ngờ của ông Trùm trỗi dậy trước sinh linh bé bỏng. Anh gọi đứa con gái trong nhà, “đem ra đây cho ba mấy hạt cơm”.

    Đứa con gái chỉ sợ con chim non chết trong bàn tay to lớn ba nó nên khẩn thiết dặn dò, “Ba phải cẩn thận. Ba coi chừng ba làm chết nó đó!”

    Anh mớm cơm hạt cho con chim non. Nó không nuốt nổi vì sức cùng lực kiệt.

    Cuối cùng anh quyết định bỏ con chim non lại tổ của nó, cho nó vài hạt cơm vì nước thì anh đã cho nó uống vài giọt rồi. Đặc biệt là lời van vái của ông Trùm, “Cầu trời cho con chim mẹ trở về cứu nó, chứ không thì nó chết thôi… Nó còn nhỏ quá, làm sao mình cho nó ăn được.”





    Tôi nói mọi người hãy vào nhà thì con chim mẹ mới dám về. Thế là tôi với anh, thêm mấy đứa con anh cùng quan sát qua màn cửa sổ. Phút nhiệm màu tới. Con chim mẹ quay về tổ cứu con. Thế thì ai đưa nó về mái nhà xưa? Lý trí con chim không đủ để nhớ đường bay năm trước sao năm sau nó bay trúng phóc đường bay cũ trong mùa chim thiên di. Động vật có linh tính, linh cảm, là những suy nghĩ từ trái tim. Thú rừng bỗng kéo nhau lên đồi cao nghĩa là sắp có sóng thần hay lũ lụt. Lý trí thú rừng không đủ để dự báo thời tiết còn nhanh, sớm hơn cả đài khí tượng tối tân… Chắc chắn có một nguồn năng lực siêu nhiên trong động vật mà khoa học chưa chạm tới được. Tôi nghĩ thế khi con chim mẹ vụt trở về. Nó chỉ mổ hạt cơm có sẵn, mớm vào miệng con chim con. Sự kỳ diệu của tạo hoá, của vũ trụ đồng loạt diễn ra khi con chim non cất tiếng kêu. Mẹ nó bay đi rồi trở lại lần sau với cọng cỏ khô, chắc là sửa lại căn nhà sau khủng bố cú mèo.

    Bên trong cửa số, mấy đứa trẻ con vui mừng hớn hở. Nhưng cộng hết niềm vui của chúng lại cũng không bằng nét rạng rỡ trên gương mặt người cha của chúng. Chưa bao giờ tôi thấy anh bạn trẻ hài lòng với cuộc sống đầy lo toan cơm áo gạo tiền, việc làm, chăm sóc nhà cửa, nuôi dạy con cái… Những thứ ấy chỉ hằn lên gương mặt anh nét đăm chiêu, sương gió trước cuộc đời, làm anh già trước tuổi. Nhưng trái với lý trí anh luôn phải lo toan cuộc sống cho gia đình nên lạnh lùng đưa ra những quyết định là sản phẩm của trăn trở, trằn trọc… Hôm ấy, gương mặt anh vui vẻ cả ngày. Vẫn lo dọn dẹp nhà cửa bên trong, thay nhớt xe ngoài garage, cắt cỏ tỉa cây ngoài sân trước, sân sau… Khi mệt, ông Trùm lấy chai bia ra ngồi ngoài patio giải khát. Nhìn ngắm cái tổ chim như báu vật của đời. Nụ cười của anh đúng là tìm lại được rạng rỡ bẩm sinh, làm cho gương mặt anh như phát quang khi anh nói, “mọi hôm ngồi đây nghe chim non kêu phát nhức đầu với tụi nó. Nhưng hôm nay nghe con chim này líu lo lại được, sao tôi thấy vui tai…”

    Đủ biết khi người ta làm một việc từ tâm thì bản thân thay đổi đến chính bản thân cũng không nhận ra mình. Tôi hoàn toàn tin toàn bộ câu chuyện xuất phát từ tâm của ông Trùm không làm việc thừa bao giờ. Lý trí anh ta rất mạnh, tính toán chuyện làm ăn giỏi lắm. Tinh thần anh ta cũng vững, khó dụ được ông Trùm này lắm. Nhưng tiềm ẩn trong con người cứng cỏi vì sinh tồn với cái đầu lạnh vẫn là trái tim nóng hổi lòng thương xót vạn vật của con người. Trái tim có điều khiển hành vi của con người, nhưng để chứng minh trái tim có bộ não riêng thì khoa học tới nay vẫn chưa đủ sức. Nếu lần tìm tri thức của con tim thì kim cổ đã nhiều câu chuyện đi vào sách sử. Người ta chỉ đặt được tên gọi chứ không lý giải nổi nên phần lý trí con người tích lũy được trong não bộ thì gọi là tri thức. Hành vi xuất phát không từ lý trí thì gọi là tâm thức. Đôi khi bước quá một bước chân có thể té ngã là mệnh lệnh từ tri thức, nhưng tâm thức vẫn chấp nhận rủi ro – bước quá một bước chân bình thường vì không ai nỡ giẫm lên những sinh linh bé nhỏ trên đường nhân sinh.

    Chuyện về trái tim cổ nhất có lẽ là câu chuyện mang tính thần thoại. Vào thời Chiến Quốc bên Trung Hoa đã xảy ra câu chuyện tráo đổi trái tim được ghi chép trong “Liệt Tử-Thang Vấn thiên”. Biển Thước cho hai người là Công Hộ và Tề Anh uống rượu có thuốc mê, hai người mê man bất tỉnh ba ngày, ông mở lồng ngực của hai người này để tráo đổi trái tim của họ. Sau đó cho họ uống thuốc giải mê, hai người tỉnh lại, hồi phục sức khỏe và trở về nhà.

    Nhưng Công Hộ trở về nhà của Tề Anh, nhận vợ Tề Anh là vợ mình. Tề Anh cũng trở về nhà của Công Hộ, nhận vợ của Công Hộ là vợ mình. Vợ của hai người bị tráo tim thực sự khủng hoảng. Cuối cùng phải dắt nhau đến quan phủ. Sau đó Biển Thước đã giải thích toàn bộ câu chuyện để quan phủ có thể phân xử.

    2500 năm trước, Biển Thước là thần y cổ đại, tiếng tăm lẫy lừng, người xưa không ai hoài nghi về thuật thay tâm của thần y, đặc biệt là được ghi chép trong Liệt Tử – điển tích của Đạo gia. Song ngày nay đọc truyện cứ thấy bàng bạc tính thần thoại. Do văn minh mà con người không còn hiểu được thiên nhiên như chim thiên di nhớ đường bay, động vật hoang dã biết lánh nạn trước khi sóng thần, núi lửa phun trào có thể nguy hiểm đến sinh mạng. Ngày nay đọc truyện về Biển Thước như truyện thần thoại là bởi văn minh hay u minh?

    Với lịch sử cận đại, việc thay tim lại được chú ý đến khía cạnh thay đổi cả tâm tính con người.
    Vào ngày 02 tháng 12 năm 1967, bác sĩ phẫu thuật tim Christiaan Barnard đã thực hiện thành công ca cấy ghép tim đầu tiên trên thế giới, tuy nhiên bệnh nhân chỉ sống được 18 ngày sau phẫu thuật. Bệnh nhân thứ hai chấp nhận cấy ghép tim là một nha sĩ 59 tuổi. Ông là bệnh nhân cấy ghép tim đầu tiên trên thế giới sống sót ra viện và sau đó ông đã sống thêm được 19 tháng.

    Đến năm 1970, tỷ lệ có thể sống sót một năm của các bệnh nhân thay tim rất thấp, chỉ có 15%. Nhưng đến những năm 1980, tỷ lệ bệnh nhân thay tim có thể sống tới 5 năm đã tăng lên 50% nhờ sự tiến bộ của kỹ thuật ghép tim và sự ra đời của các loại thuốc chống đào thải nội tạng lạ trong con người nên người được ghép tim ngày càng có thể sống lâu hơn. Hiện nay trên thế giới, thời gian dài nhất của bệnh nhân thay tim sống được là 28 năm. Nhưng chuyện thay tim luôn song hành với những chuyện kỳ diệu khác.

    Năm 2008 ở Georgia – Hoa Kỳ có ông Graham, 69 tuổi, được thay tim đã 12 năm trước, người hiến tim là anh Cottle, 33 tuổi. Không lâu sau cuộc giải phẫu thay tim, ông Graham đã đến gặp người vợ của người hiến tim cho mình, hai người họ đã yêu nhau và rất nhanh đi đến hôn nhân.

    Điều sách báo nói chỉ đào sâu vào cảm tính của hai trái tim đã từng yêu nhau khi ông Graham đã mang trong người trái tim của anh Cottle đã hiến tặng ông nên ông dễ có cảm tình với cô vợ goá của anh Cottle. Và cô vợ goá của anh Cottle cũng dễ dàng chấp nhận tình yêu của ông Graham vì tình yêu đó xuất phát từ trái tim mà cô đã từng yêu thương 12 năm về trước. Chỉ có điều khoa học bó tay là ông Graham cũng lại tự nổ súng vào đầu để kết liễu đời mình y chang như anh Cottle đã làm 12 năm trước nên mới có quả tim để cho ông Graham.

    Cùng năm nhiều chuyện về tim. Tờ Daily Mail năm 2008 đã đăng tin, Sheridan, 63 tuổi, sống ở New York, đã được thay tim tại bệnh viện Mount Sinai. Điều làm người ta thắc mắc đến ngẩn ngơ là sau khi thay tim, ông Sheridan chưa từng biết vẽ thế mà trở thành một họa sĩ với rất nhiều bức tranh độc đáo đã khiến người thưởng ngoạn tranh kinh ngạc. Người ta tìm ra được người hiến tim cho ông là một họa sĩ vừa qua đời vì tai nạn giao thông.

    Như vậy người họa sĩ quá cố đã vẽ tranh bằng con tim nên khi tặng lại trái tim họa sĩ cho người không biết vẽ thì người không biết vẽ bỗng có được tài nghệ về hội hoạ của người hiến tặng tim.

    Điều này rất vô lý đối với y học phương tây vì y học phương tây chỉ xem trái tim trong cơ thể người là cái bơm bơm máu, đem khí oxy và dinh dưỡng đi nuôi tế bào khắp cơ thể. Y học phương tây là sự trình bày và phân tích các bằng chứng khoa học. Y học phương Tây không thừa nhận tinh thần và lý trí riêng của con tim. Nhóm nghiên cứu của giáo sư tâm lý học Gary Schwartz thuộc Đại học Arizona đã ghi chép lại được hơn 70 câu chuyện thay tim khó lý giải tương tự như Graham. Cuộc nghiên cứu đã chỉ ra được việc người ta sau khi được ghép tim có những biến đổi về tính cách và phẩm chất giống như người hiến tặng.

    Việc thay tim đã làm nhiều nhà khoa học, tâm lý học cũng chịu thua với biết bao nhiêu khoa học kỹ thuật hiện đại có trong tay họ, thì họ cũng không lý giải được trường hợp của cô Claire Sylvia, 47 tuổi, sinh sống ở Massachusetts đã trải qua việc thay tim với trái tim hiến tặng. Nhưng những sự việc lạ lùng sau đó đã làm thay đổi quãng đời còn lại của cô. Điều đã khiến cô viết nên cuốn tự truyện “Sự thay đổi con tim”.

    Luật cấy ghép nội tạng ở Hoa Kỳ nghiêm cấm tiết lộ thông tin cá nhân của người hiến tặng. Nhưng trong giấc mơ, cô Claire đã gặp được người hiến tặng trái tim cho mình. Claire dựa vào thông tin trong giấc mơ mà tìm được gia đình của người hiến tặng quả tim.

    Claire Sylvia là vũ công chuyên nghiệp. Vào cuối thập niên 80, cô bị chứng bệnh tăng huyết áp phổi đột ngột, có nguy cơ tử vong cao. Năm 1988 cô được thay tim và phổi cùng lúc.

    Sau khi trải qua cuộc phẫu thuật, điều cô muốn làm nhất sau khi được tái sinh là uống bia dù trước đó cô không thích uống bia. Claire viết trong cuốn sách “Sự thay đổi con tim” của cô. “Một ý nghĩ kỳ lạ nổi lên trong tim tôi, có lẽ người hiến tặng nội tạng cho tôi – chàng trai trẻ tuổi kia thích uống bia, và cậu ấy đã truyền tải sở thích của mình qua trái tim cấy ghép ấy cho tôi”.

    Một tháng sau khi cấy ghép tim phổi, Claire xuất viện. Cô thấy rằng mình bắt đầu thích ăn những món mà trước đây cô chưa bao giờ yêu thích như ớt xanh, đùi gà chiên KFC…

    Dần dần cô nhận ra thêm tính cách của mình ngày càng trở nên nam tính. Claire viết: “Tính cách của tôi trở nên hung hăng, quyết đoán và tự tin hơn, tôi ít bị cảm lạnh hơn trước đây, thậm chí cả cách đi bộ của tôi cũng trở nên nam tính”.

    Claire viết về giấc mơ của cô: “Tôi mơ thấy mình đang đứng trên một thảm cỏ xanh ngoài trời, bên cạnh là một chàng trai trẻ với mái tóc vàng nhạt, tên cậu ta là Tim, có thể là Tim Leiden, tôi không chắc lắm, vì vậy tôi gọi cậu ta là Tim L. Khi tôi bỏ lại cậu ấy trong giấc mơ, tôi cảm thấy rằng giữa chúng tôi vẫn còn một số điều chưa nói ra, vì vậy tôi đã quay lại để nói lời tạm biệt và hôn cảm ơn cậu ấy. Tôi cảm thấy mình như vừa hít một hơi thật sâu và hít cả cậu ta vào cơ thể mình. Khi tôi thức dậy sau giấc mơ, tôi linh tính rằng Tim L. là người đã hiến tặng trái tim cho tôi, tính cách và tinh thần của cậu ấy đã hòa tan trong tôi”.

    Sau đó Claire gọi điện thoại cho bệnh viện đã làm phẫu thuật cho cô để hỏi han thì không được trả lời vì luật nghiêm cấm không được tiết lộ thông tin cá nhân của người hiến tặng nội tạng.
    Claire đã nhờ một người bạn lục tìm tất cả các cáo phó liên quan đến tai nạn xe cộ ở Boston ngay trong tuần lễ cô được làm phẫu thuật cấy ghép tim phổi. Claire tìm được một cáo phó liên quan đến cái chết trong một tai nạn xe máy của một thanh niên 18 tuổi, tên Tim Lamirande.

    Claire viết tiếp: “Tim trong giấc mơ của tôi là có thực, đột nhiên đầu gối tôi run rẩy, rồi gục ngã trên ghế. Cáo phó cho biết Tim có 5 chị em gái và 2 anh em trai. Cuối cùng tôi cũng biết được danh tính của người hiến tặng nội tạng, biết rằng cậu ta có một gia đình, và đây chính là bằng chứng: một cái tên, một địa chỉ ở một thị trấn nhỏ thuộc ngoại ô Boston”.

    Cả gia đình của người hiến tặng tim đều bị sốc khi Claire gọi điện thoại thăm hỏi họ. Ngay người lo liệu cuộc cấy ghép nội tạng ở bệnh viện cho Claire tên là Gail Eddy cũng bối rối. Claire nói: “Tôi hỏi cô ấy liệu có khả năng trong lúc tiến hành phẫu thuật cho tôi, một bác sĩ nào đó đã vô tình nói ra tên của Tim và tôi cũng đã ghi nhớ lại một cách vô tình. Nhưng Gail nói, bác sĩ không bao giờ biết được danh tính của người hiến tặng nội tạng”.

    Claire lại mơ thấy Tim lần nữa, cô bắt đầu viết thư cho gia đình Tim, và họ đồng ý gặp mặt Claire. Claire viết lại: “Em gái thứ tư của Tim là Anne đã nói với tôi: Hãy cho chúng tôi biết, làm cách nào mà cô tìm được chúng tôi?” Người nhà của Tim cho biết anh ta thích ăn đùi gà chiên của KFC, thích ăn ớt xanh, thích uống bia, và không bị cảm lạnh bao giờ… Khi Claire kể về việc gặp Tim trong giấc mơ của mình, cả gia đình của Tim đều kinh ngạc. Chị gái Carla của Tim cho biết, “Ngoài cô ra, những người đã tiếp nhận nội tạng của Tim chưa có ai từng liên lạc với chúng tôi.” Sau này Claire mới biết rằng gia đình Tim ngoài hiến tặng tim và phổi cho cô, họ còn hiến tặng cả giác mạc, thận và gan cho những bệnh nhân khác.

    Chúng ta thử nghĩ về liên hệ giữa cô Claire với anh Tim. Ngoài việc trái tim đôi khi gạt bỏ trí óc con người sang một bên để quyết định làm một việc gì đó mà lý trí ngăn cản. Bạn thấy một đứa trẻ sắp gặp nguy hiểm trước vực sâu, bên bờ sông, ghềnh thác… Sự nguy hiểm không chừa ai nên lý trí chúng ta không cho phép bản thân đến những nơi nguy hiểm làm gì. Nhưng bạn không bỏ đi được trước sự nguy hiểm rình rập đứa bé. Vậy hành vi mạo hiểm của bạn để cứu đứa bé trước khi quá muộn là do cơ quan nào trong cơ thể bạn điều khiển? Có phải do cảm xúc của bạn trước sự ngây thơ, dễ thương của đúa bé đã khiến bạn mạo hiểm cứu nó? Không có bằng chứng thuyết phục nào đủ mạnh để chứng minh cho những hành vi nghĩa hiệp, đạo đức là do con tim điều khiển, nên tư tưởng đông phương có thuyết Nguyên thần ở trong tim.

    Đông y đã được Hoàng Đế truyền lại từ 5000 năm trước, bản chất thuộc về “y học Thần truyền”, bắt nguồn từ thần “Thượng Đế” trong Đạo gia. Tất cả trình bày và phân tích trong đông y đều căn cứ vào thánh kinh “Hoàng Đế nội kinh”. Do đó, có sự khác nhau đến đối lập về bản chất và phương pháp nghiên cứu giữa y học phương đông và y học phương Tây.

    Theo sách “Hoàng Đế nội kinh”, Nguyên thần của con người cư ngụ ở tim. Nguyên thần là linh hồn, vô hình. Hoàng Đế nội kinh có nói: “Có nguyên thần con người mới sống, không có nguyên thần thì là người đã chết”. Bằng chứng là y học tây phương đã cấy ghép hoàn chỉnh một cơ thể người có thể tự hô hấp, tiêu hoá và bài tiết như người sống nhưng người ghép ấy chỉ sống đời sống thực vật.

    Từ khái niệm nguyên thần ngụ trong tim của đông y mới có thể hiểu được bí mật trong những câu chuyện thay tim cổ đại và hiện đại. Khi thần y Biển Thước thực hiện việc hoán đổi trái tim giữa hai người, ông cũng tráo đổi cả linh hồn của họ vì trái tim ẩn chứa linh hồn. Sau đó, thân xác người này lại mang linh hồn của người kia, nên khi trở về nhà sau phẫu thuật, họ đã nhầm nhà và nhầm vợ.

    Graham đã nhận được trái tim của Cottle, và đó là nguyên thần của Cottle, cho nên bề ngoài Graham vẫn luôn là Graham, nhưng trái tim chứa đựng linh hồn của Cottle, do đó Graham đã nhanh chóng đến gặp người vợ góa của Cottle, đã yêu và kết hôn với cô. Tương tự như vậy Sheridan đã được thay tim và đã nhận được những đặc điểm của người hiến tim, do đó ông đã trở thành họa sĩ…

    Cơ Đốc giáo của phương tây từ lâu đã nói đến linh hồn, đều này tương tự như thuyết Nguyên thần ở phương đông. Có thể thấy được văn hóa cổ đại đều tin rằng sinh mệnh con người không chỉ có thân thể hữu hình mà còn ẩn chứa vô hình, siêu nhiên nữa. Điều này cho thấy khoa học kỹ thuật, y học hiện đại dư sức có thể hoàn thành việc cấy ghép tim, nhưng lý luận y khoa hiện đại không thể giải thích được tất cả các hiện tượng thay đổi xảy ra sau khi cấy ghép tim.

    Tóm lại, con người có người hữu thần và người vô thần, nhưng bề ngoài như nhau. Ai cũng có đầu mình và tứ chi, những cơ phận trên người được gọi bằng con là đều quan trọng. Con mắt là cửa sổ của linh hồn, nhưng người mù vẫn sống. Con truyền giống quan trọng hơn nữa vì không có nó thì lấy gì để duy trì giống nòi, nhưng hoạn quan vẫn sống. Chỉ con tim ngừng đập mới chấm hết đời người.

    Theo tài liệu về tim. Trái tim là bộ phận duy nhất trong cơ thể người không bị ung thư, hơn nữa lại là liều thuốc hữu hiệu nhất.

    Tôi gấp hết sách vở tham khảo lại để tự hỏi mình có Nguyên thần trong tim không? Niềm vui không che giấu là trái tim con người không bị ung thư. Trái tim có thể giết 95 % vi khuẩn ung thư trong 24 giờ; Ngoài ra, người tâm bình khí hoà là tim còn có thể tiết ra nhiều hormone trị liệu cho những căn bệnh khác của con người. Nhưng y học cổ truyền và y học hiện đại tính sao đây với những trái tim hoại thư trong lồng ngực của người cộng sản vô thần, quân khủng bố cuồng tín? Chỉ là người thường trong đời vô thường. Xin hãy giữ lấy Nguyên thần trong tim mình để đôi khi làm những việc lý trí phản đối nhưng từ tâm không bao giờ bị ung thư…

    Phan

    Nguồn:http://vietluan.com.au



              

Hình đại diện
Bạch Vân
Bài viết: 3095
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 19:19
Gender:

Re: Phan

Bài viết bởi Bạch Vân » Thứ ba 11/09/18 11:47

  •           

    Cây Tre…




    Tôi từng đọc được hàng chữ “Made in Vietnam” trên cái thớt tre trong chợ Mỹ. Đọc rồi bàng hoàng cảm xúc như gặp lại chính mình thời trẻ gian truân ngay trên quê nhà; gặp mấy khúc tre cắm trong bình làm đồ trang trí nhà cửa ở Mỹ sao bâng khuâng dĩ vãng lùa về cả đoạn đời sử dụng khúc tre chống chiếc xe đạp thồ chở cả mét khối than từ Long Khánh về Sài gòn để sống qua ngày.

    Tôi nhớ cảnh chợ Mỹ khi cầm đôi đũa tre bên quê nhà mới gởi sang, gắp miếng khô sặc còn mùi nắng quê xưa… tưởng như gặp lại nỗi nhọc nhằn của người cùng khổ trên quê xưa, qua tay bao tài phiệt độc quyền xuất nhập cảng trong nước, qua bao kiểm nghiệm để bảo vệ người tiêu dùng ở Mỹ thì sản phẩm bằng tre của Việt nam mới tới được chợ Mỹ.

    Vậy mà giá bán cái thớt tre ở Mỹ cũng chỉ vài đồng đô la, hôm chợ khuyết mãi càng tủi thân với sản phẩm quê nhà. Họ bán đại hạ giá tới năm, bày mươi phần trăm thì như cho không khách hàng cái thớt tre. Nghĩ đến người dân trong nước không biết được mấy xu tiền Mỹ khi làm nên cái thớt tre. Đâu chỉ bán đi ít tre bạt ngàn ở quê nhà, mà người dân trong nước đã bán ra thế giới cả giọt mồ hôi người thợ thủ công, sự khéo tay truyền thống của dân tộc Việt với giá rẻ bèo cho thế giới dửng dưng.


    *



    Người Việt nam mà không biết cây tre thì chắc như người Mỹ không biết tới cái hamburger. Đã là người Việt, ít nhiều ai cũng có ký ức với cây tre. Lũy tre làng đi vào ca dao, văn học. Người dưới quê hẹn nhau, “tầm mặt trời tới ngọn tre, hay xế ngọn tre…” thay cho cái đồng hồ khi còn xa lạ với người dân quê.

    Cây tre ngẫm lại đã chung cùng với đời sống thôn quê truyền đời từ bờ giậu tre tới phên tre che chắn gió mưa, đắp bờ đê cũng dùng phên tre để bớt xạt lở; sườn tre lợp lá, lợp tranh thành cái chòi ngoài đồng để nghỉ ngơi, ăn cơm nửa buổi; thậm chí làm kỹ hơn thì thành nhà để ở khi thôn quê còn thưa vắng người đi khai hoang…

    Tôi biết tới cây tre từ khi biết cầm đũa, nhớ mãi chuyện đôi đũa tre tôi thường hay kẹp nách khi bị sai đi rót thêm nước mắm cho cả nhà đang ăn cơm. Rồi sau đó cứ kẹp đôi đũa tre ở nách mà đi tìm đôi đũa của mình để ăn cơm tiếp. Cả nhà cười cái thằng từ bé đã đểnh đoảng, nhưng đâu ai biết là những gương mặt cười của cha mẹ, anh chị em đã đi vào ký ức thằng bé đểnh đoảng nơi chân trời góc biển của mấy mươi năm sau khi nó lại kẹp cái kính trên đầu mà cứ đi tìm cái kính để đọc báo. Hồi vợ con cười cho thì ngồi thừ ra đó mà nhớ cha thương mẹ dưới suối vàng, thương anh nhớ chị trong nhà đã muôn phương theo vận nước nổi trôi…

    Tới biết chơi thả diều, tôi loanh quanh làng trên xóm dưới tìm kiếm một thanh tre về làm khung diều. Tìm không ra thì trộm cây đũa cả của mẹ để chẻ ra làm khung diều, bị mẹ đánh đòn cũng lại là cây roi tre.

    Những năm sau hoà bình khốn khổ ở quê nhà. Thằng nhóc tôi đã lớn thì thức khuya dậy sớm để gánh hàng ra chợ cho mẹ buôn bán kiếm đồng lời nuôi mấy đứa con nhỏ còn đi học, đi thăm nuôi cha anh trong tù cải tạo, cũng lại là cây đòn gánh tre trên vai chú bé tuổi ăn chưa no lo chưa tới đã biết mắc cỡ, sợ bạn bè đi học sớm trông thấy sẽ cười chê. Đâu ngờ tình thân bạn bè gắn bó nhau hơn cho tới bây giờ vì nhiều người bạn nhỏ của tôi ngày ấy cũng tay xách nách mang, gánh gồng ra chợ cho mẹ họ buôn bán kiếm cơm trước khi đi học…

    Dường như tôi với cây tre lắm duyên nhiều nợ. Vì sau đó, những mùa hè lại vội vã lên rừng để đi chặt tre rừng, kết bè, thả suối về miền xuôi; bán cho những Tổ hợp Mây-Tre-Lá thời bấy giờ. Họ đan kết ra những sản phẩm từ cây tre mà bán ra thị trường. Nhớ đoạn đời còn quá trẻ mà đã phải phiêu lưu mạo hiểm với cây sào tre chống cái bè tre cơm gạo, phải linh hoạt lắm mới đưa được cái bè tre về miền xuôi với suối lũ mưa rừng, đánh đổi những ngày hè thay vì rong chơi tuổi trẻ thì làm việc tối mặt với hiểm nguy rình rập và muỗi vắt cùng sốt rét trên rừng…

    Đâu biết những vất vả qua đi, người ta còn lại sự thấu hiểu với những người cùng khổ, đói khát không hề vẩn đục những kỷ niệm không dễ gì quên như ống tre rượu cần của người dân tộc; cái điếu cầy làm bằng lóng tre bóng lưỡng tới chú bác ngủ quên trên bè đã bị vượn, hay khỉ gì đó trộm mất, chắc chúng mê tiếng nỏ điếu kêu vang một góc rừng của những người lính cũ sau hoà bình thường sống trong rừng cho đỡ chướng tai gai mắt với chế độ mới. Riêng tôi thi thoảng nhớ mùi cơm nấu bằng ống tre của cô gái ngực trần đã mời tôi bữa ăn khó quên với miếng thịt nai gói lá chuối, xiên vào que tre mà nướng trên than tre. Lửa rừng thiêng như cô gái người dân tộc đi vào ký ức thị thành của tôi chưa hề phai nhạt dẫu đời đã lưu lạc tới không ngày về.

    Ngày ấy, tôi vẫn về thành đi học lại sau những mùa hè sống và làm việc trên rừng, những sáng sớm chưa tỏ mặt người nơi phố thị đã nghe tiếng lục lạc của những con bò kéo tre từ miệt Củ chi về Sài gòn để bán cho người ta làm ra rất nhiều sản phẩm từ tre, từ cái thang tre để leo lên mái nhà đến cái rá tre cho người bắc di cư vo gạo, cái rế tre để bắc nồi cơm, nồi canh nóng hổi ở thị thành. Tre âm thầm như người bạn thủy chung trong đời sống dân dã mọi miền vì dưới miền tây sông nước thì tre đan thành hom, thành lọng để bắt cá, bắt tôm, bắt cả chuột đồng bằng những cái hom tre… con heo ủn ỉn kêu trong cái cũi tre khi nó bị gia đình nào đó trong xóm bán đi - là hình ảnh in đậm vào ký ức bé con của những đứa trẻ nhà quê về chuyện sát sanh gắn liền với ông lái heo thường là người tàu.

    Rồi thì xa quê biền biệt đã bao năm ròng, mỗi khi đến đâu có cộng đồng người Việt ở hải ngoại, tôi thường để mắt đến những chiếc nón lá trong chợ hay khu thương mại của người Việt vì nó gợi lại nhiều kỷ niệm xa xưa, nhớ lần nhặt được cái nón lá cũ rách ngoài bãi rác mà làm được bao nhiêu con diều với khung tre của cái nón lá đã đi vào văn học, thơ ca của người hay chữ, thằng nhỏ nhà quê chỉ biết làm diều từ khung tre của những cái nón lá rách. Đâu biết về sau, đôi khi giữa phố xá không quen và đông người xa lạ, sao như nghe được giọng bắc nửa hờn nửa giận của mẹ tôi vang vang trên cánh đồng bất tận của tuổi thơ, “ông giời con của mẹ! Sao cứ lấy cái rá vo gạo đi xúc cá lia thia thì làm sao mẹ nấu cơm chiều…” Không biết những người mẹ trẻ bây giờ gieo vào đầu óc con thơ của họ những gì để sau này khôn lớn, những đứa con chợt nhớ đến mẹ trên thiên đàng mà có thể tủm tỉm cười một mình chứ không hề oán giận. Thôi thì mỗi thế hệ có vui-buồn riêng. Tôn trọng và thông cảm bao giờ cũng tốt hơn đố kỵ với phân biệt.

    *


    Tre dân dã, tre quê mùa. Nhưng tre lại gắn bó trong đời sống và tâm linh con người khi hồi tưởng về tre từ tuổi nhỏ tới trưởng thành, từ “quê nhà xa lắc xa lơ đó/ ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay…” như thơ Nguyễn Bính. Càng xa quê nhà xanh xanh lũy tre càng thấy lòng bâng khuâng, hụt hẫng trước văn minh, hiện đại ở tây phương. "Có những lúc bỗng thấy mình du thủ/ thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn…” như thơ của thầy Tuệ Sỹ. Nhưng kể làm sao cho hết chân quê đã gắn kết nửa đời người với cây tre nơi chôn nhau cắt rốn; kể làm sao đây nỗi ngậm ngùi khi cầm lên tay một sản phẩm bằng tre có xuất xứ từ Việt nam. Hàng chữ đơn giản nhưng bắt buộc phải có trên tất cả mọi loại hàng hoá ở Mỹ là làm tại đâu? Sao đọc thấy hàng chữ “Made in Canada”, hay các nước châu Âu… bỗng ta có niềm tin hàng thật, hàng tốt. Nếu là “Made in China”, có rẻ mấy cũng lặng lẽ bỏ xuống… mà nhiều khi tôi nghĩ lý do không hẳn là hàng giả, hàng tệ… mà là mối thù truyền kiếp của người Việt với giặc phương bắc! Chỉ đặc biệt khi đọc thấy hàng chữ “Made in Vietnam”! Nó làm cho trái tim người Việt sống bên ngoài lãnh thổ bỗng bồi hồi như người xưa gặp lại tình cờ trên mảnh đất tạm dung. Mân mê sản phẩm có hàng chữ Made in Việt nam trên nước Mỹ như sờ lại được quê hương ta đó trong màu lá xanh… Đó là thơ Hải Phương bên Toronto, bà yêu nhớ quê nhà chân thành đến xót xa… “chắt chiu một mảnh vườn sau/ quê hương ta đó trong màu lá xanh…” Câu lục bát gần gũi như cây tre trong lòng người Việt nhưng đòi hỏi cả một tấm lòng với quê cũ mới viết nên được câu thơ lắng đọng lòng người. Cảm ơn nữ sĩ.

    Ôi cây tre gắn kết với tuổi thơ trên đồng, cây tre bằng hữu với nhọc nhằn tuổi nhỏ trong nước… tất cả đã qua, đã qua, nhưng cây tre gặp lại nơi quê người sao mặn đắng nghĩa tình với quê nghèo gian khổ mãi không buông…

    Đến sáng hôm tôi ghé ngôi chùa mới xây gần nhà. Định bụng mua vài món chay về cúng cơm mẹ tôi, vì các bà các chị trong hãng nói chùa có bán thức ăn chay, giá cả phải chăng mà lại ngon. Nhưng tôi nào biết gian phòng nào là phòng bán thức ăn chay trong khuôn viên chùa toà ngang dãy dọc. Tôi đi tìm mấy món ăn chay để mua về nhưng lại gặp câu chuyện về cây tre của mấy người Phật tử. Người đàn bà than vãn khúc tre cong, bà không làm được việc gì đó! Nhưng có một ông cụ trông phúc hậu trong màu áo quy y đã kể cho những người phật tử lớn nhỏ cùng nghe câu chuyện về cây tre khá ý nghĩa…,

    Ông cụ kể rằng: “Cây tre thật ra chỉ là một loại cỏ cao trong tự nhiên, không phải một loài cây như chúng ta quen gọi là cây tre. Tre dẻo giai nên có bị cong khi trời gió thì cây tre vẫn đứng thẳng lại được khi gió yên. Cái đặc tính kỳ diệu đó đã làm cho cây tre tự mãn… Tre vốn mang vẻ đẹp mạnh mẽ nên một phần quan trọng trong cuộc sống đời thường và cả tâm linh của nhiều ngườ sủng ái cây tre. Hơn thế nữa, tre còn được sử dụng như một nguồn sinh kế ở nhiều nơi khác trên thế giới.

    Theo đó có rất nhiều thứ được tạo ra từ một thân tre, từ khung túp lều cho đến làm củi đốt. Thậm chí là cả vật dụng nội thất và các nhạc cụ như sáo cũng được làm từ tre, phế phẩm của tre thì xay ra làm giấy viết... Mặc dù chúng ta vẫn quen gọi tre là cây, nhưng trên thực tế tre là cỏ, loài cỏ cao nhất. Có rất nhiều điều thú vị về loài cỏ này. Theo văn hóa dân gian trong truyện cổ tích của Phi luật Tân, cây tre vốn không bị uốn cong khi gió thổi cho đến khi bị trừng phạt vì tính xấu của nó…”


    Tôi không tin cây tre có tính xấu nên nép bên cửa sổ như chờ đợi ai để nghe tiếp câu chuyện về cây tre của ông lão dư thời gian vì ông cứ lề mề kể chuyện…

    Ông lão kể tiếp, “Cây tre từ khi biết mình là loài cỏ cao nhất! Tre thích khoe khoang, và tự hào về dáng vóc xinh đẹp của mình. Tre hãnh diện với màu sắc tươi tắn và những chiếc lá xanh tươi sáng có thể phản chiếu lại ánh nắng mặt trời vào buổi sớm mai.

    Do đó tre phát sinh lòng ghen tị, giận dữ và khó chịu khi không nhận được sự chú ý hay đánh giá cao, vì tre đã tự tin mình xứng đáng có được sự ngưỡng mộ so với muôn loài… và tre quên luôn nguồi gốc của mình là cỏ. Tre tự nghĩ mình là hạng cây nên tre không thích những loài cây được mọi người công nhận và tán dương như cây bàng có tán lá rộng để người ta có thể nghỉ chân tránh nắng đôi phút trên đường trưa… Tre bắt đầu không thích cảm giác hổ thẹn, nên tre đã biết nghĩ đến việc trả thù!

    Hôm có nhóm học sinh đi dã ngoại. Họ vào rừng quan sát rất nhiều loài cây. Nổi bật nhất là những cây tre cao vút, xanh mướt, nhưng chúng lại không cho họ được trái tre để ăn. Vì vậy, họ đã rời khỏi bụi tre để đến cây ổi, cây vú sữa, cây mận… trong rừng.

    Khi mọi người ngồi trên bãi cỏ để cùng thưởng thức các loại trái cây mà họ có được. Niềm vui của họ lan toả cả khu rừng làm tre thấy ghen tị với các loài cây cho quả. Tre nghĩ thầm, “Sao mình lại không có trái chín trên cành”. Cảm giác vô dụng xâm chiếm tâm hồn cây tre nỗi đau khổ tận cùng. Tre trở nên ghen tị và tức giận đến nỗi tre gọi bạn gió giúp đỡ cho những cơn gió mạnh nhất để làm rụng hết các loài quả.

    Tre cảm thấy rất vui và thỏa mãn với mưu kế thâm sâu của mình…

    Đến hôm có đôi tình nhân vô rừng chơi. Họ chọn ngồi dưới bụi tre trò chuyện vì bụi tre quá đẹp. Nhưng tre không có hoa, nên đôi tình nhân đi tiếp tới cánh rừng có hoa thơm cỏ lạ… mùi hương ngào ngạt của đủ loài bông hoa đã làm cho một ngày dã ngoại của đôi tình nhân thật khó quên…

    Tre giận quá vì mình không có hoa nên gọi nhờ bạn mưa. Mua vùi giập hết những bông hoa rừng làm cho tre cảm thấy hạnh phúc và mỉm cười bí ẩn để các loại cây khác không biết tính cách tre nhỏ mọn trong bề ngoài cao ngạo hơn đời…

    Đến ngày hè oi ả, đôi vợ chồng già ngang qua khu rừng nhiều tre lại muốn nghỉ ngơi. Ông lão tìm loài cây có tán lá to để tránh nắng mặt trời. Họ cảm thấy may mắn khi nhìn thấy cây bằng lăng hoa tím rậm rì... Họ rời bụi tre đẹp nhưng vô dụng.

    Tre tủi thân lá nhỏ, và đã nghiện trả thù nên tre gọi bạn tre là lũ chim cò. Chim cò thọ ơn tre cao vắt vẻo mà ốm thân nên đã giúp chúng dễ quan sát con mồi khi đậu trên thân tre. Chim cò ăn sạch lá bằng lăng nên từ đó loài cây này trở nên trơ trụi. Riêng tre được hả hê…

    Tạo hoá chịu hết nổi tính ngông cuồn tự phụ và lòng ghen tuông, ích kỷ hẹp hòi của cây tre nên ngài trừng phạt cây tre sẽ bị uốn cong khi trời gió, để loài cỏ cao nhất phải biết khiêm nhường và quý trọng những gì mình đang có…”


    Người nữ phật tử càm ràm khúc tre cong nghe xong câu chuyện của ông lão, chị lặng lẽ đi làm công quả với khúc tre cong! Người nghe ké ngoài cửa sổ nhìn ra đời chỉ thấy tre ngay như người quân tử, cả ngụy quân tử xếp hàng dài mua bán hư danh… Tượng Phật đứng bóng bước qua giờ ngọ hay ngài là người không mang bóng thì câu chuyện cây tre của lão ông cũng là món chay trong tâm thức vãn sanh vãn chùa, vì đôi khi chúng ta trân qúy một điều gì đó đến bất luận, nhưng nên nhớ là chỉ với riêng mình. Người khác luôn khác mỗi chúng ta một sự tôn trọng cần thiết là chìa khoá của văn minh.

    Người Việt có câu, “vợ dại không bằng đũa vênh”. Nhưng dụng đôi đũa tre bị cong nên không gắp được nhiều… thì lại ít bệnh hơn người may mắn được đôi đũa ngay khi cùng ăn, vì ăn nhiều sinh bệnh thôi chứ làm gì. Chả phải người xưa nói, “bệnh vô từ miệng, hoạ ra cũng từ miệng” Ăn và nói là hai thứ không thể thiếu trong đời sống con người, nhưng ăn là đưa bệnh vào người và nói ra là rước hoạ vào thân. Vũ trụ có nguyên nhân vì sao con người phải ăn và nói. Vạn vật có kết quả, hàm chứa trong cây tre, loài cỏ cao nhất và mọc nhiều ở Việt nam để mỗi người dân nước Việt đều có bài học tu dưỡng khắp nơi trên lãnh thổ quê nhà. Người xa quê cũng còn ký ức về cây tre để thương để nhớ quê xa và hàm dưỡng bản thân…


    Phan


    Nguồn:https://vvnm.vietbao.com


              

Hình đại diện
Bạch Vân
Bài viết: 3095
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 19:19
Gender:

Re: Phan

Bài viết bởi Bạch Vân » Thứ ba 11/09/18 12:36

  •           

    Vô Thường Quán





    Vô Thường Quán nằm trong khu thương mại Việt Nam, nhưng góc phố đó chỉ có cây cổ thụ và mấy tiệm Mễ nên người Việt cũng ít lui tới.

    Tờ thực đơn là cái mới nhất trong quán này vì ít ai đụng tới. Kẻ tò mò sẽ thấy nó rất dài những món hết rồi, món còn không ngon nên người ta chỉ ghé uống ly cà phê, lại ngon. Những người ghiền cà phê và không khí quán kiểu Sài Gòn đều thích quán này vì ly cà phê đặc quánh, sủi bọt, gợi nhớ khung trời kỷ niệm chằng chịt những cơn mưa, đủ thứ chuyện ướt át nhưng nắng lên khô hết.

    Vô Thường quán là chỗ thích hợp để bàn chuyện làm ăn tế nhị, hoặc chuyện mèo mả gà đồng không sợ ai thấy, cả hai chuyện không muốn nhiều người biết đều thích hợp. Những chuyện riêng tư, hay âm mưu đảo chánh trong quán này, lỡ có bị ai nghe thì cũng không ai nhớ để nói lại. Thật thú vị với cái quán mà người đến để nghe chuyện thiên hạ, nhưng ra về chỉ nhớ chuyện mình là cần đối phó trước.

    Đặc biệt nhất của quán Vô Thường là ông chủ không bận rộn vì ế. Ông ngồi hẳn một bàn gần quầy tính tiền, với ly trà đá, xấp báo nhiều như một người đang giúp tổng thống nghiên cứu dầu loang trên vùng vịnh Mexico. Gần đây, ông còn trang bị thêm một laptop để đọc báo mạng.

    Quán chưa bao giờ đông khách, nhưng đi vào danh sách những quán không thay tên đổi họ theo mùa. Người uống cà phê “Lá Xanh” với bạn bè, đi một chuyến Việt Nam về thì tên quán đã thành “Lá Vàng”. Không hiểu Vô Thường sao trụ nổi" Tin từ “Mai tôi đi” cho biết, lão chủ may mắn bị tai nạn trong hãng Mỹ. Tiền bồi thường khẳm lắm, lại được chu cấp suốt đời, tới chết mới thôi. Lão mở quán cà phê cho đỡ buồn - là lão nói dóc - lão âm mưu một cuộc tình hoang tưởng vì nhìn lão kìa! Vậy mà ai, lão cũng không chê xấu thì chê già. Lão bị vợ bỏ từ hồi bị tai nạn bởi nhìn lão, người không ra người ma không ra ma… Không hiểu sao đàn ông có bao nhiêu hên, lão gom hết về mình. Người nói kết luận như nói ra ước mơ của bản thân. Quán này, cái gì cũng đặc biệt, tưởng những người nghe phản ứng thì ngược lại! Họ đồng ý với người nói, đàn ông có bao nhiêu hên trên đời, lão chủ quán tham lam quơ hết. Đúng là khách hàng của quán này cũng đặc biệt.

    Ông chủ để ngoài tai chuyện thiên hạ đang râm ran về mình, -chuyện thường ngày ở quán- sống chung với lũ riết rồi quen. Ông chỉ ngước lên, chứ không chào ông chủ trại hòm “Hồn Hoang“, người mới restore cuộc tình với bà chủ thẩm mỹ viện “Hoàng Hôn”. Đôi uyên ương bước vô. Lão chủ quán tỉnh bơ đọc báo, coi như chó mèo nhà hàng xóm qua chơi. Lão chú mục kỉnh vô laptop, rồi hô hoán: “Đù cha cái thằng Omboma bên Nam Dương, bị vợ cắt mất rồi, ném cho chó ăn…” làm ông chủ trại hòm khó chịu! Tin giật gân nên mấy sợi gân còn lại trên mặt lão chủ quán giật giật, rồi giãn ra kết luận: “Quân khủng bố giết người, giết nhiều người, cũng không ác bằng đàn bà. Cứ nhè cái khí thế của đàn ông mà cắt, chắc con mẹ này người Tàu, chứ người Nam Dương đâu có độc ác tới độ đó!”

    Cách lão hô hoán làm bà chủ thẩm mỹ viện khó ở. Bà đi vào quầy pha chế, tự làm nước uống cho mình. (Người khách kia cần thêm trà! Tự đi pha lấy bình trà. Khách không tự pha sẽ không trở lại vì thấy mặt ông chủ nện bình trà xuống bàn thì lần sau không tính tiền cũng không thèm đến.) Mọi người đồng tình ủng hộ cao kiến của ông chủ quán, - những người không có tiền trả cho ly cà phê của mình hôm nay nên tranh thủ cơ hội làm vui lòng ông chủ để ghi sổ. Một đặc biệt nữa của quán Vô Thường, -mang bản sắc vỉa hè Sài Gòn.

    Ông chủ trại hòm chỉ chào hỏi vài người quen biết. Những người biết chuyện đang xì xầm về cuộc tình của ông. Bà chủ thẩm mỹ viện bưng ra hai ly trà đá, vừa lúc tình lang đã mở xong mấy ổ bánh mì mua ba tặng một. Bữa trưa của hai người chủ đã qua thời, chỉ còn cái tên gọi: ông chủ; bà chủ, như một sự mỉa mai của sự đời. Người quen quay lưng để đừng nhận ra nhau với họ, thấy lòng bất an, một chút ân hận. Dù gì cũng quen biết, nhưng đường ra đã bị chắn lối. Ngồi lại, chắc cũng như lần trước! Ăn xong, họ sẽ cãi nhau… nghe nói, có hôm đánh nhau luôn tại quán, rồi bỏ nhau sau khi đôi bên cùng u đầu sứt trán. Nhưng mặt mày hết bầm thì restore lại cuộc tình cho dầy thêm lớp sẹo. Lưỡi dao định mệnh có xuống nhát cắt oan nghiệt hay không - vẫn chỉ là tin đồn trong chuyện tình không suy tư của họ. Người ta chỉ thấy bà ngả ngớn sau lưng ông, nhưng thường lo ra mặt cho ông trước mắt mọi người, lúc tình vui trong phút giây...

    “Mai tôi đi” ngồi canh me ông chủ trại hòm vừa ăn xong ổ bánh mì, hớp ngụm trà đá xúc miệng òng ọc. Hắn buông tờ báo của mình xuống, bước sang bàn tình nhân tâng bốc mấy câu, “Chị, ngày càng trẻ ra… Anh, ngày càng phong độ…” Vừa lúc ông chủ trại hòm móc gói thuốc trong túi áo ra, thế là hắn quá giang được một điếu. Trở lại chỗ ngồi, mặc kệ những con mắt soi mói.

    Hơn nửa tiếng sau, hắn lại bỏ tờ báo xuống, sang bàn người lạ mặt để bắt chuyện.

    “Chào anh bạn, hình như anh ít tới quán này"...”

    “Dạ phải, thỉnh thoảng tôi mới ghé đây!”

    “Hèn gì, tui thấy anh quen quen mà lạ lạ…”

    “Là sao"”

    “Anh nhìn hết quán này đi, có một mình anh để gói thuốc với cái quẹt trên bàn…”

    “Anh cứ tự nhiên. Có gì đâu!”

    “Anh không biết tui hả" Tui xin thuốc tới ai cũng bỏ gói thuốc trong túi áo.”

    “Anh em sợ anh hút nhiều quá sinh bệnh, chứ điếu thuốc có đáng gì!”

    “Anh là người hiểu biết. Tui mới gặp lần đầu!”

    “Cảm ơn anh.”

    “Tui không mua thuốc lá vì có gói thuốc trong túi thì tui đốt cho tới hết.”

    “Hình như anh bỏ mua cũng hơi lâu rồi ha, ráng bỏ đốt!”

    “Anh biết tui hả"”

    Hắn ra chiều tư lự, tay vịn vô gói thuốc trên bàn như quán tính. Người kia để yên cho hắn đốt một điếu bạn bè, điếu thuốc có đáng gì mà phải hỏi xin. Hắn nói trong làn khói đặc:

    “Mai tui đi, còn kẹt cái xe chưa bán được. Nếu anh cần thì tui để rẻ cho. Cái xe tui, anh không xài thì bán lại cho người khác cũng có lời.”

    “Tôi không có nhu cầu về xe, mà cũng không biết mua bán xe.”

    “Tui nói cho anh nghe, tui chỉ đi Cadillac thôi. Đó là hiệu xe mà… ai chạy qua rồi thì không chạy được xe khác nữa, vì nó êm, vọt bạo…”

    “Sao anh không để dành xài"”

    “Tui làm biếng lái về Cali, tính bán 500. Đủ mua cái vé máy bay là được. Về bên đó lại, em út tui mua cho chiếc khác chứ lo gì!”

    “Nói tới Cadillac thì năm ngàn cũng chưa dám nói tới. Cadillac năm trăm, chắc bên ngoài mưa lớn bên trong mưa nhỏ. Đi chỗ khác đi cha!”

    “Mai tui đi thiệt mà, nếu là quen biết thì anh giúp tui hai chục đổ xăng. Tui đem bán cho tụi Mễ cho rồi. Chiều trả anh hai chục với chầu bia, được chưa"”

    “Xin lỗi, tôi không có sẵn tiền trong người.”

    “Coi bảnh vậy, mà cũng rách quá ha…”


    Hắn nói lẩy, rồi bỏ đi. Tay không quên xin thêm điếu thuốc. Cũng tội nghiệp hắn đang mùa hè. Hết hè, vợ lại cho ngày hai chục để đổ xăng, chở con của bà ấy đi học, đón về. Lại thêm một người đàn bà độc ác, mà truy nguyên, đàn ông đừng lăng nhăng, không chịu đi làm thì còn gì để nói trong cõi Vô Thường.
    Người đi ra khỏi quán, không còn nhớ gì ngoài chuyện phải gởi bài về toà soạn.


    Phan


    Nguồn:https://vvnm.vietbao.com



              

Hình đại diện
Bạch Vân
Bài viết: 3095
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 19:19
Gender:

Re: Phan

Bài viết bởi Bạch Vân » Thứ ba 11/09/18 19:50

  •           


    Sự khác biệt…





    Có lẽ không riêng ai mà hầu như ai cũng đã từng cắn răng chịu đựng một người anh chị em ngay trong gia đình mình, nhưng không thể trò chuyện với nhau quá ba câu thì làm sao có tình thân thương do thấu hiểu nhau được? Rồi thì cắn răng chịu đựng người bạn học trong lớp với cầu nguyện duy nhất là mau hết năm học để sang năm không phải gặp lại. Đến người làm chung nơi chỗ làm, ước gì anh ta hay bản thân mình được hay bị thuyên chuyển công tác đều tốt đẹp cho cả hai hơn là một hôm nào đó xảy ra chuyện không hay ho gì cho cả đôi bên…

    Dường như cuộc sống của chúng ta luôn song hành sự ưng ý và trái ý trong mỗi chủ thể để tạo nên sự khác biệt giữa người này với người khác. Không có ai giống ai, nhưng càng nhiều người khác ta thì phải coi lại mình, bởi sự khác biệt đó đã quá mức bình thường…

    Lại còn trường hợp không phải dễ hiểu, hay có gì đâu mà ưu tư khi hai người yêu nhau. Sau những buổi hẹn hò đã nói đủ thứ chuyện về tình cảm, hoạch định tương lai, đến chuyện bạn bè, rồi chuyện trên trời dưới đất gì cũng được xuôi tai. Thế mà về đến nhà mỗi người đã lật đật khép cửa phòng riêng để viết thơ cho nhau vì thời gian gặp mặt không bao giờ đủ cho hai người yêu nhau. Vậy sao sau khi thành hôn của nhiều cặp vợ chồng, chúng ta vẫn thường nghe lời ta thán của họ, “tôi chẳng thể nào nói được tới câu thứ hai với nhà tôi?”

    Nghĩa là ngoài sự khác biệt bẩm sinh về tư duy nên hai người anh em ruột đã không thể gần gũi nhau từ bé thì nói gì chỉ là bạn học, đồng nghiệp trong đời. Nhưng người bạn đời lại là bằng chứng tư duy có thể thay đổi theo thời gian, hoàn cảnh và môi trường sống… Từ hai người không đủ thời gian để nói hết chân tình với nhau sao lại trở nên khó thốt nên lời về sau. Đừng bao giờ nghĩ một chiều là người phối ngẫu đã thay đổi theo thời gian, điều nên nghĩ đến là sự thay đổi của chính mình đã góp nửa phần làm cho quan hệ thay đổi.

    Một người bạn thân sao bỗng dưng không muốn gặp gỡ nữa, một người đồng nghiệp tâm đầu ý hợp sao bây giờ cứ tránh mặt nhau vì ngay việc chào hỏi xã giao cũng không còn muốn nữa… Chúng ta quen đổ lỗi cho người khác là cách bảo vệ mình. Đó là sở học trường đời, không trường lớp, nhưng lại phổ biến nhất trong đời sống xã hội.

    Nếu nhìn lại văn hoá dân tộc cũng nhiều mâu thuẫn theo thời gian thì nói gì con người luôn chịu tác động từ môi trường sống thay đổi mà có ý kiến cho là văn minh; ý kiến trái ngược lại cho là xa rời truyền thống. Trong tục ngữ, ca dao – là sự đúc kết kinh nghiệm truyền đời của dân tộc thì ông bà ta từng bảo, “nhìn mặt bắt hình dong”. Nhìn qua một người đã biết là người tốt hay người xấu thì có hơi quá đáng tự tin. Nên con cháu linh hoạt vận dụng văn hoá dân tộc tùy tiện mà thành, “đừng có nhìn mặt mà bắt hình dong”! Song câu giáo huấn ấy vẫn tồn tại cùng văn hoá Việt từ xa xưa đến nay như sự tồn tại mang tính bất nhất, sự trí trá trong văn hoá khi không thích ai thì bảo là nhìn mặt đã bắt “được” hình dong; nhưng khi bênh vực ai thì lại bảo là “đừng” có nhìn mặt mà bắt hình dong người ta…

    Có lẽ đây là nỗi băn khoăn của nhiều người chứ không riêng ai khi mỗi ngày vẫn phải giao tiếp xã hội trong tâm thái chấp nhận đám đông chứ không tiện lý luận cá nhân. Chúng ta đầu hàng thầm lặng nhiều vấn đề của cuộc sống đến thành thói quen như nghe ông sư chửi thề thì mới thắc mắc chứ kẻ đầu đường xó chợ chửi thề thì nghĩ như anh ta hát vậy! Không ai siêng hơn bản chất lười của con người để tự hỏi vì sao ông sư chửi thề, vì sao kẻ đầu đường xó chỡ kia chửi thề, vì sao ta có phản ứng khác nhau với hai người cùng chửi một câu?

    Nếu có một hôm thức dậy không phải lo nghĩ gì. Chúng ta không khó nhận thức ra cuộc sống ở trong mắt mỗi người rất khác nhau. Con người sống trong các giai tầng xã hội, địa vị, nghề nghiệp không giống nhau nên có những quan niệm khác nhau về cuộc sống. Đó là sự tương đối trong cộng sinh vì tuyệt đối chỉ phù hợp đơn lẻ. Loài người sống bầy đàn nên có tính xã hội cao. Khó có thể chấp nhận sự tuyệt đối trong đời sống khi con người phụ thuộc vào cách nhìn của mỗi người khác biệt, nhưng không được vượt ranh giới để khác người là tập quán bầy đàn.

    Ở tầm quốc gia, Nước Mỹ văn minh hiện đại và giàu có vào bậc nhất thế giới. Nhưng chính phủ và các nhà khoa học Mỹ chỉ đổ tâm huyết, công sức và tiền của vào việc hạn chế tử vong của người dân khi thiên tai; mau chóng khôi phục, sửa chữa thiệt hại do thiên tai gây ra để đời sống, sinh hoạt của người dân mau được trở lại bình thường càng sớm càng tốt. Chính phủ và các nhà khoa học Mỹ không tự xưng là “đỉnh cao trí tuệ” nên người dân Mỹ được hưởng sự phục vụ tốt nhất và tinh thần trách nhiệm cao nhất của chính quyền Mỹ. Nhìn về quê nhà dưới sự lãnh đạo của những “đỉnh cao trí tuệ” nên chống hết, chống cả ông trời, bão tố, khắc phục thiên tai… mà hậu quả là từng cơn bão của thiên nhiên lại cuốn ra biển bao nhiêu sinh mạng người dân thiếu sự bảo vệ, quan tâm của các cấp lãnh đạo. Ngay cả viện trợ nhân đạo của thế giới, của Liên Hợp Quốc giúp cho người dân Việt nam sống qua bão tố thì lại lọt vào túi riêng của nhà cầm quyền. Lớn quyền thì ăn tiền viện trợ, nhỏ chức thì ăn chận nạn nhân bão lụt từ gói mì gói tới viên thuốc cảm…

    Cuộc sống không phải ở chỗ chống chọi với bão tố, sức người không thể chống, khắc thiên nhiên, mà là ở chỗ bảo bọc đồng loại, chia sẻ mất mát, sửa chữa hư hao. Người lãnh đạo hữu thần biết phải làm gì theo lời răn của kinh sách. Người vô thần không biết phải làm gì nên hành động bản năng chiếm đoạt và tích lũy. Tạo nên sự khác biệt chủ nghĩa, tâm linh mà mỗi người không thể đứng ngoài. Vậy chúng ta đứng hẳn về một bên cho hết do dự – là cảm giác phiền não không nên giữ lâu, giữ mãi trong lòng để u uẩn…

    Có những điều rất tầm thường hơn trong đời sống. Như sách truyện về đường rừng thường dạy người ta khi đi lạc vào rừng. Nếu đã đói đến phải ăn lá thì hãy ăn lá chua, lá đắng; không ăn lá ngọt vì lá ngọt thường có độc. Người dân miền núi không hái nấm đẹp về ăn vì thường có độc. Họ hái rau dại đắng chát về nhà làm thuốc hạ sốt cho người bị sốt… Từ đó ta thấy cuộc sống con người khác với muôn loài ở trí tuệ. Nhưng trí tuệ con người không phải chỉ dùng để quan sát, mà là để phân biệt. Vậy một người có trí tuệ sẽ biết phân biệt bạn và thù, tốt và xấu… kẻ nhập nhằng chỉ là người linh hoạt hạ tiện trong xã hội con người luôn phải rèn luyện bản thân trước, thì người ta lại hay phán xét người khác trước! Dòng sống như lò đúc rực lửa, nhưng có mấy thanh gươm qúy trong thiên hạ vì hầu như những thanh sắt thép chỉ biết cuồn nhiệt với hào quang thường gãy, vỡ khi qua nước thuốc trui rèn lạnh cóng. Những thanh gươm qúy hiếm hoi thường không cuồng nhiệt lửa đỏ mà tĩnh lặng, tỉnh táo kết ngưng sự khổ luyện. Người ta cũng dễ bốc đồng khi bất bình nên hỏng chuyện, để thành công trong cuộc sống luôn vào tay ít người biết chừng mực khi cuồn nhiệt để còn tỉnh táo kết thúc một cách thành công…

    Cũng phải kể đến tương quan vũ trụ của vạn vật. Nếu các loài đều ăn cơm gạo, lúa mì, lúa mạch thì con người sẽ càng thiếu lương thực. Nên cần biết tôn trọng và thấu hiểu tự nhiên vì sao các loài cây đều cần thổ nhưỡng màu mỡ để phát triển tốt nhất thì cây xương rồng lại thích hợp với sự cằn cỗi của thổ nhưỡng ở sa mạc – để sản sinh ra hoa xương rồng xinh đẹp không thua kém các loài hoa cần thổ nhưỡng màu mỡ khác. Cuộc sống con người có hiểu biết, tri thức về tự nhiên và tương quan vũ trụ với con người sẽ không đặt nặng sự thành bại trong cuộc đời, vị trí bản thân, hoàn cảnh như thế nào…? Vì điều quan trọng hơn là sự lựa chọn phù hợp với cá tánh, tài năng và sở thích… mới là chìa khoá của thành công. Đứa trẻ mê vẽ mà cha mẹ cứ bắt đi học võ thì khó thành võ sư hơn thành họa sĩ.

    Có câu chuyện vui ở Hội nhiếp ảnh nọ. Những tay mê ảnh đã đến những vùng núi xa xôi để chụp ảnh. Sau đó có một tay săn ảnh đã đặt tên cho tập ảnh mà anh ta chụp được là, “Tháng ngày gian khổ”. Nhưng có vị khách thưởng ngoạn ảnh lại thốt lên,“Thế giới thần tiên”. Cho thấy góc độ nhìn nhận cùng sự việc, sự vật hoàn toàn từ nhân sinh quan và thế giới quan của mỗi người khác nhau. Trẻ thành phố không chịu nổi sự nhàm chán nơi thôn quê… vì chúng không biết trò chuyện với con trâu trên đồng, bay bổng ước mơ theo cánh chim trên không, trái dại ngoài đồng chứ ăn ngọt lịm, đã khát khi cần như kinh nghiệm của một mục đồng. Cho thấy cuộc sống không phải lúc nào cũng cần phải huyên náo như nơi phố thị thì người ta mới hết trỗng rỗng trong lòng. Tẻ nhạt như dưới quê vì không biết hoà đồng vào cuộc sống thôn dã… Sự khác biệt của nội tâm cô quạnh của con người dễ bị nhầm với sự đơn độc trong cùng một cuộc sống mà sự trỗng rỗng bao hàm. Nên khi sự đơn độc len lỏi vào cảm giác thì đừng vội hàm oan cho cuộc sống rời xa mà cần tỉnh thức với nội tâm hiu quạnh, thiếu cảm nhận và hoà nhập với xung quanh… Như chúng ta cũng đã quá quen với gia vị trong ẩm thực, đến nỗi gia vị mới là khẩu vị của chúng ta; bỏ qua vị ngọt tự nhiên của con cá tươi, mùi hương đặc biệt của nhiều loại xà lách khác nhau… Con người đồng hoá ẩm thực vào gia vị mà quên đi phẩm chất thực sự của mỗi loài; tự tạo ra hình mẫu, đẳng cấp trong xã hội mà quên đi nhân phẩm của mỗi người mới quan trọng hơn bề ngoài, đẳng cấp. Thật khó cho giới trẻ trong nước đã quen với nhận định của những người tên tuổi trong nước về một nhân vật xã hội, đại loại “anh ta là một tài năng nhưng chưa khẳng định được đẳng cấp…” Nhận định càng tâng bốc người từng được công nhận đẳng cấp thì tài năng có gì hơn hay kém cỏi hơn người tài năng mới nổi, mới lên. Giới ca sĩ, nghệ sĩ, tài tử, diễn viên, thậm chí giới trí thức trẻ trong nước bị đầu độc, trù giập vô tình hơn cố ý của những người tên tuổi thiển cận. Một tiếng hát hay, đầy tài năng và triển vọng nhưng cứ nhận thù lao kém cỏi vì chưa thuộc đẳng cấp có thù lao cao!

    Nhìn ra thế giới, sự vươn lên, văn minh hiện đại hơn của con người có mặt tích cực nên cũng hạn chế cảnh giới của mỗi cá nhân nhiều. Bởi cảnh giới hoàn toàn không phải là làm theo người khác mà là tự mình tìm ra. Nếu Đức Phật chỉ tu luyện theo những người tu luyện trước ngài thì không có Đức Phật độc tôn với con đường giải thoát. Đã mấy ngàn năm, bao người xuất gia để theo gót chân Phật nên Phật tử bây giờ đông hơn dân số toàn cầu khi Phật tìm ra con đường giải thoát, nhưng đã ai đến được niết bàn ngoài người phát minh ra con đường cứu khổ cứu nạn ấy!

    Đã bao giờ bạn ngắm nhìn một bức tranh, đọc một tác phẩm với toàn tâm riêng mình để thấy được sự hoàn mỹ không phải là điều hấp dẫn nhất mà chính những thiếu sót mới lôi cuốn hơn… Đó là sự khác biệt mang tính cảnh giới của ít ỏi cá nhân dám nghĩ dám làm, dám thoát ra khỏi lối mòn tư duy nhân loại.

    Sự khác biệt là điều không thể chối cãi trong xã hội giữa người này với người khác. Nhưng sự khác biệt với chính mình của mỗi người thì đều nên nghiêm túc xem lại để không đánh mất sự khác biệt của mình với mọi người xung quanh trong thời đại văn minh đồng hoá, đồng nhất thành một thực thể dưới quyền kiểm soát của văn minh. Nói một cách khác là chúng ta từ bỏ nhân quyền tự hiến để cho giống mọi người không thể thiếu cái điện thoại bên mình. Nếu có lỡ quên điện thoại ở nhà thì quay lại nhà để lấy, chịu đi làm trễ hôm đó vài phút, nửa tiếng… hay chỉ chọn giải pháp thứ hai là có người nhà đem cái điện thoại đến chỗ làm cho ta. Chúng ta tự nguyện giống mọi người không suy tư, không thể thiếu cái điện thoại bên mình – dù không có sẽ không chết – là chấp nhận sự khác biệt với chính mình trước đây để rồi đây sự khác biệt với người khác cũng mờ nhạt dần đến hủy diệt khi loài người sáng ra hỏi nhau: Đêm qua facebook có gì lạ không? Thay cho câu chào buổi sáng, bạn có khỏe không?

    Nhìn lại sự khác biệt của mỗi người là nền tảng xã hội. Nhưng sự khác biệt chính mình lại không xoá đi từng cá nhân mà xoá đi sự khác biệt nền tảng của xã hội. Không còn nhân loại sau thời kỳ mỗi cái iPhone phục vụ cho một người thì thời đại mỗi người phục vụ cho một cái iPhone. Không còn sự khác biệt trên hành tinh thì cuộc sống của con người còn ý nghĩa gì không?

    Phan


    Nguồn:http://vietluan.com.au


              

Hình đại diện
Bạch Vân
Bài viết: 3095
Ngày tham gia: Thứ sáu 20/03/15 19:19
Gender:

Re: Phan

Bài viết bởi Bạch Vân » Thứ bảy 06/10/18 19:21

  •           

    Người bạn trẻ…






    Nghe người bạn trẻ trò chuyện với mấy người làm chung trong hãng, tôi cũng không dám chắc là anh nói thật hay nói chơi vì trời sanh tánh anh cứ nửa chơi nửa thật. Anh giải thích chuyện duyên nợ với mọi người đến không thể đơn giải hơn, mọi người cứ ôm bụng mà cười cái tính nửa chơi của anh, nhưng nhìn ra ai cũng lắng nghe nửa thật, mới biết là người ta coi vậy chứ yếu bóng viá. Còn tôi cũng không hơn gì là hoang mang với người bạn trẻ này vì nghe qua đã biết anh lấy cốt truyện từ trong sách nhà Phật ra để kể. Rồi thêm mắm dặm muối cho vui giờ nghỉ giải lao cũng chẳng phiền hà, xúc phạm gì ai. Nói tóm lại là một câu chuyện đặc trưng cho tính cách nửa chơi nửa thật của anh bạn trẻ.

    Anh nói: Để tôi giải thích cho mọi người nghe về duyên nợ của con người. Có một cô gái trẻ, đẹp, nhưng không may bị chết ở bên đường. Người thứ nhất đi ngang qua, chỉ ta thán: Trời ơi! Người đẹp đẽ như vầy mà chết trẻ, tội nghiệp quá! Người ấy nói vậy thôi, rồi bỏ đi! Người thứ hai đi ngang qua, tỏ lòng thương hại: Trời ơi!, sao một người trẻ, đẹp như vầy mà lại chết bên đường, không có thân nhân. Người này động lòng từ tâm nên đắp cho xác chết vài tàu lá. Rồi anh cũng lặng lẽ bỏ đi. Nhưng người thứ ba ngang qua, không nói gì mà lặng nhìn xác chết… rồi ẵm luôn cái xác về nhà. Anh đào huyệt chôn cất cho cái xác vô thừa nhận.

    Bây giờ qúy vị đã nghe xong câu chuyện chứng minh cho hai người trước là hai người chỉ có duyên với cô gái chết nên mới có sự gặp gỡ. Tuy muộn màng vì âm dương đã cách biệt, nhưng không có nợ gì nhau nên chỉ dừng lại ở chữ duyên gặp gỡ rồi thôi. Nhưng người thứ ba đã ra ơn chôn cất cho cô gái, nghĩa là cô ấy đã nợ anh chàng thứ ba này một nghĩa cử lớn vì nghĩa tử là nghĩa tận mà. Chắc chắn là kiếp sau, khi đầu thai trở lại làm người thì cô ấy sẽ lấy anh ta để trả nợ tiền kiếp. Đó, hết chữ duyên trên đời chỉ để trả cho một chữ nợ. Cái vòng duyên nợ luân hồi mênh mông như biển người mà sao cuối cùng chỉ có hai người thành vợ chồng với nhau là duyên đưa đẩy để trả nợ cho nhau. Đã luân hồi vạn kiếp chỉ một người hiểu được nợ mới là chánh, duyên chỉ là cò, dẫn lối đưa đường thôi. Nhưng người ta cứ vơ đũa cả nắm duyên với nợ để tiện bề lý giải…

    Tui xin lỗi là tui không đủ sức nói rõ hơn cho mọi người hiểu về duyên nợ. Nhưng tui tự suy ra kiếp này của mình, ra đường thấy con gái đẹp cứ cho tiền họ nhiều nhiều, càng nhiều càng tốt để họ mắc nợ mình thật nhiều thì kiếp sau mới có duyên để đến trả nợ! Biết chưa…?

    Rồi thì người bạn khác kết luận thay cho người diễn thuyết có một không hai: Thì ra kiếp trước anh hà tiện quá, nên kiếp này siêng đi làm mà sợ về nhà…

    Ừ thì có chuyện cười cứ cười cho khuây khoả giờ nghỉ. Nhưng câu chuyện giờ nghỉ của anh bạn trẻ cứ vương vấn tôi ngẫm nghĩ về Phật giáo từng là quốc giáo ở Việt nam nên triết lý Phật giáo hòa quyện vào dân gian đến tự nhiên như truyện cổ tích. Khi cần một câu chuyện để chứng minh cho luận lý của mình, người dùng kinh sách đôi khi cũng không biết xuất xứ câu chuyện là từ trong kinh sách. Chỉ kể lại câu chuyện thật thật hư hư theo trí nhớ như lấy từ trong kho tàng cổ tích dân gian, là tài sản chung nên mọi người đều có thể sử dụng.

    Nhưng nếu nói về duyên nợ vợ chồng thì đã bao đời truyền tụng câu nửa tôn giáo nửa đời thường như một định đề về hôn nhân là: tu trăm năm mới đi chung thuyền, tu ngàn năm mới thành phu thê. Tu đây là tu nhân tích đức để có vợ hiền, rể quý, chứ ai lại đi tu ngàn năm để cầu phu thê. Thôi thì ai nhỡ hiểu lầm có thể hiểu lại cũng không muộn!

    Từ thời xa xưa đã có câu chuyện lưu truyền trong dân gian cho đến đời Đường bên Trung Hoa, câu chuyện dân gian mới đi vào tác phẩm “Tục huyền quái lục”. Trong truyện, Lý Phục Ngôn đã kể câu chuyện về Nguyệt Lão se duyên như sau: Đời Đường có người tên là Vi Cố. Trong lần anh ta đi đến Tống Thành, lúc đi dạo mát dưới ánh trăng, Vi Cố thấy ông lão đang ngồi lật một quyển sách vừa dày vừa lớn, và bên cạnh ông là một bao vải to chứa đầy chỉ đỏ.
    Vi Cố ngạc nhiên nên hỏi: “Lão bá bá, xin hỏi người đang xem sách gì đó!”
    Ông lão trả lời: “Đây là quyển sách ghi việc hôn nhân của nam nữ trong thiên hạ”.
    Vi Cố hiếu kỳ nên hỏi thêm: “Vậy chỉ đỏ trong túi, bá bá dùng để làm gì?”
    Ông lão trả lời: “Những sợi chỉ đỏ này là dây tơ hồng, dùng để buộc chân hai vợ chồng lại, bất kể đôi nam nữ là kẻ thù hay ở cách xa nhau vạn dặm, ta chỉ dùng những sợi chỉ đỏ này buộc chân họ lại thì nhất định họ sẽ thành vợ chồng”.

    Vi Cố không tin, anh đi theo ông lão một đỗi để xem ông trói buộc người ta ra sao mà thành vợ chồng? Lúc trông thấy một bà mù đang ôm một bé gái độ ba tuổi đi tới, ông lão liền nói với Vi Cố: “Bé gái trong tay người đàn bà mù này tương lai sẽ là vợ anh đó”.

    Vi Cố nghe xong rất tức giận, liền sai đầy tớ đánh đuổi bé gái kia đi, để xem tương lai còn có thể thành vợ của ta không. Tên đầy tớ làm theo lệnh chủ rồi bỏ chạy.

    Thời gian trôi qua, mới đó đã mười bốn năm sau, Vi Cố lúc này đã có trung nhân, sắp kết hôn. Người đó là con gái của Thứ sử Tương Châu – Vương Thái. một người con gái đẹp, chỉ khiếm khuyết là giữa đôi chân mày có một vết sẹo. Vi Cố cảm thấy rất kỳ quái, liền hỏi nhạc phụ tương lai: “Vì sao giữa đôi lông mày của hôn thê của con có một vết sẹo vậy?”

    Thứ sử Tương Châu nói: “Mười bốn năm trước ở Tống Thành, có một ngày bảo mẫu Trần thị bế con gái ta đi phố, có một tên cuồng dại vô duyên vô cớ lại đâm con gái ta một dao, may mắn không nguy hiểm đến tính mạng, chỉ để lại một vết sẹo, đúng là trong rủi lại có cái may!”

    Vi Cố nghe xong vội hỏi: “Người bảo mẫu đó có phải bị mù không?” Vương Thái hỏi ngược lại: “Đúng vậy, là một người đàn bà mù, nhưng làm sao ngươi lại biết?”

    Vi Cố vô cùng kinh ngạc. Sau đó kể lại chuyện mười bốn năm trước ở Tống Thành, đã gặp Nguyệt Lão như thế nào? Vương Thái nghe xong cũng kinh ngạc không kém. Vi Cố bấy giờ mới hiểu được chuyện Nguyệt Lão se duyên, nhân duyên của họ đúng là đã được định đoạt từ số phận, duyên phận của hai người như trong mệnh đã có định số.
    Từ chuyện xưa như cổ tích, nhưng ngoái lại những chuyện xảy ra trong đời thì (đôi khi) chúng ta cũng giật mình! Thời xưa, vợ chồng thường bắt đầu từ hôn ước khi còn nhỏ, nhưng lớn đến độ hiểu được chuyện vợ chồng thì họ tuân thủ hôn ước do ông bà, cha mẹ đã hứa hôn với nhau từ khi họ còn bé vì người xưa tin rằng vợ chồng chính là duyên phận đã được định trước ở trong mệnh, ông bà hay cha mẹ chỉ là người lập thành gia thất cho đôi vợ chồng theo định mệnh có sẵn.

    Nhớ lại những gì đã chứng kiến trong đời thì tôi làm sao quên hai người bạn học, bạn trong xóm từ nhỏ. Hai gia đình chung bờ giậu đã có hứa hôn từ khi họ còn chưa đi học lớp 1. Nhưng thời thế văn minh lên, đèn điện đã thắp sáng thay cho đèn dầu ở vùng quê. Nên anh chị sui gái phải nói qua bờ rào để xin phép anh chị sui trai cho con gái tôi học hết lớp 12 rồi hãy tổ chức đám cưới cho bọn nhỏ, vì bây giờ phải học hết lớp 12 mới xin được việc làm.
    Lẽ ra bạn học chúng tôi đã được đi ăn cưới khi học hết lớp 9. Nhưng dời lại tới hết lớp 12 là bằng chứng khó quên trong bạn bè vì chẳng đứa nào hình dung ra đời sống vợ chồng của hai người bạn mà hôm qua còn đùa nghịch ngây ngô với nhau trong sân trường. Chỉ sau hôm hai nhà chung ngõ, gắn hai tấm bảng “Tân hôn” và “Vu Quy” liền bên nhau. Hai người bạn của chúng tôi đã thành vợ chồng. Để thật nhiều năm sau, khi bạn cũ trường xưa có dịp họp mặt ở bất cứ đâu trên địa cầu, chúng tôi đều nhắc đến đôi bạn làm đám cưới sớm nhất trong bạn bè. Và ai cũng được vui vẻ với tin tức về họ là một gia đình êm ấm, con cháu đề huề…

    Những khi một mình tôi cũng thường nghĩ đến số phận con người mà tiếng Việt có lẽ hay nhất là từ “dòng đời”. Từ ngữ diễn tả được hết ý nghĩa của cuộc sống trôi chảy như dòng nước, nước đã qua cầu không trở lại, đời người mãi cam tâm với hôm qua thuộc về quá khứ. Từ “cuộc đời” chỉ nói lên được khái niệm về một người, không diễn tả chính xác và sinh động như dòng đời trôi chảy những phận người trong vô lượng kiếp. Dòng đời ần chứa thăng trầm của một đời người trong cộng sinh hơn là cuộc đời chỉ mang tính đơn lẻ, lý lịch về một người.

    Đời người trên dòng đời trôi chảy mãi, như lữ khách trên một chuyến tàu, với vô số trạm dừng ở trên đường, rất ít ai có thể đi cùng nhau từ đầu đến cuối, cho dù là thân nhân, bạn bè, người yêu… Người đi kẻ đến, người lên kẻ xuống chuyến tàu định mệnh rất chung mà rất riêng cho từng định mệnh. Người đi cùng nhau một đoạn đời đã là ơn nghĩa khắc cốt ghi tâm. Khi một người phải xuống trạm định mệnh của một mà hai người, mỗi người chỉ còn lại trong ký ức cái vẫy tay, lời tạm biệt nhau. Định mệnh có thể là an bài sau cuối, nhưng cũng có thể là ở trạm tiếp theo, sẽ có một người khác chia chung những vui buồn trên hành trình còn lại của một đời người. Như ly cà phê đắng hay ngọt không bởi được khuấy bằng cái thìa hay cây que, mà điều quan trọng là ta có bỏ đường hay không? Một niềm vui tương phùng, một nỗi đau chia xa, không thể giữ vì muốn mất cũng không được trong đời vô thường nên chẳng thể quên thì đừng ráng nhớ. Điều có thể là hãy cố gắng làm lại từ đầu, nhưng đừng vấp một mô đá hai lần. Đơn giản như tạo hoá không có lòng ham muốn nên vũ trụ bình an. Con người nhỏ bé sao cái gì cũng muốn làm hơn khả năng thực sự của bản thân để chuốc phiền. Như hai chiếc áo cùng chất liệu vải, cùng một xưởng may, thậm chí cùng một người thợ may; chỉ khác nhau ở nơi bán ra mà hai chiếc áo có giá cả khác nhau. Như mỗi người có vị trí riêng trong đời là sự may mắn riêng, không nên lầm tưởng vị trí may mắn và vị trí tài năng. Như người khuyết tật không hẳn là bất hạnh, chỉ vì ta không dám tin người ấy được tạo hoá ban cho sự khác người, ta hại họ chìm đắm trong tự ti, mặc cảm khuyết tật để thể hiện lòng thương hại của cái tôi trong ta đã khuyết tật nặng hơn về sự u minh.

    Có lẽ thế nên tình cảm con người ngày càng mù mịt hơn trong đời sống vô lý lấn át chân lý. Duyên phận của con người bẽ bàng hơn do con người chấp nhận sự vô lý quá dễ dàng mà lại khắt khe với chân lý. Tình cảm giữa con người tỉ mẳn như đôi que đan, hai chiếc cùng đan mới nên cái áo len xinh đẹp theo ngày tháng. Nhưng lúc gỡ bỏ, chỉ cần cắt đầu mối len là xong. Chiếc áo công sức, ân tình, thời gian, chỉ còn là nùi len rối ngỡ ngàng, bẽ bàng, trong cuộc đời dài hay ngắn tùy tâm thì người ta lại thường hay tùy tiện, dẫn tới không trân quý thời gian bên nhau vì tương ngộ là khoảnh khắc không trở lại, chia xa là vẹn tròn một mối lương duyên…

    Có lẽ đời sống đã làm thay đổi tư duy con người về được mất, hiện hữu và ảo tưởng, bình an và rối rắm… Từ câu chuyện vui của người bạn trẻ, nhưng nghĩ cho cùng nếu dám sống cho đi thật nhiều thì nhận nhân duyên, thoát vòng duyên nợ mới đáng nói.

    Phan


    Nguồn:http://vietluan.com.au


              

Trả lời

Quay về “Thời luận - Xã luận - Phiếm luận - Tạp ghi”